Bộ phim đầu tay thực hiện cách nay 30 năm. Bản in video khi chuyển công tác khỏi Đài Truyền hình Cần Thơ bị thời gian huỷ hoại quá nhiều. Dẫu sao cũng là một kỷ niệm đáng nhớ về buổi đầu tập tễnh vào nghề.
Biên kịch: Lê Vũ Tuấn. Đạo diễn: Nguyễn Việt Hùng. Quay phim: Nguyễn Kử. Dựng phim: Nguyễn Hồng Đào - Đinh Văn Hùng. Thu thanh: Trần Hồng Sang. Đọc lời bình: Trần Chí Kông. Đài Truyền hình Cần Thơ sản xuất tháng 12.1984.
“Khôi phục biên giới hữu nghị và hoà bình, ngăn chặn làn sóng diệt chủng trên đất nước anh em có nền văn hoá 2.000 năm, Campuchia trở thành một điểm tựa trên chiến hào chung của nhân dân Đông Dương. Theo tiếng gọi thắm thiết của tình bạn chiến đấu, những người lính tình nguyện Việt Nam đã sẳn sàng có mặt:
Nguyễn Minh Cảnh, quê ở xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải.
Vũ Văn Cân, quê ở xã Đông Đô, huyện Hưng Hải, tỉnh Thái Bình.
Nguyễn Thành Tôn, quê ở xã Định Hoà, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre...
Mỗi người lính có một cái tên gắn liền với một làng quê thân thiết. Trên con đường lớn của tình hữu nghị, ánh lửa của trái tim đưa họ đến đây, hoà chung tên tuổi của mình vào sự nghiệp bất tử của mối tình bè bạn thiêng liêng.
Chúng tôi sẽ kể về họ, những người đang có mặt và cả những người từng có mặt nơi đây”.
"Ở một nơi ngày ngày đối mặt với chiến tranh, người ta vẫn tìm thấy những xúc cảm thiêng liêng và cao thượng, hoàn toàn xa lạ với chiến tranh trong những vần thơ của lính: Tôi đến với tình yêu của em - Như con người hoang sơ tìm về với lửa - Như ngọn cây tìm gió - Con sông tìm bờ cát Việt Nam - Tôi đến với tình yêu của em - Ít lời, vụng dại - Muộn màng mà đắm đuối - Như cánh chim gặp gỡ bầu trời..."
HÌNH ẢNH ĐOÀN LÀM PHIM
![]() |
| Cùng đạo diễn Nguyễn Việt Hùng tại thủ đô Phnom Penh năm 1984. |
![]() |
| Trao đổi kế hoạch "đi về phía có chiến tranh". |
![]() |
| Một ga xe lửa trên đường từ Mặt trận 979 ở Pochentong lên chiến trường Pursat. |
![]() |
| Dừng chân ở huyện 10, tỉnh Kampong Chhnang. |
![]() |
| Một cây cầu vừa bị tàn quân Pon Pot đánh mìn ngay ngoại ô tỉnh lỵ Pursat. |
![]() |
| Phỏng vấn đại úy Nguyễn Minh Cảnh - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 339. |
![]() |
| Xe jeep của Đài Truyền hình Cần Thơ bị bọn Pon Pot lầm tưởng là xe Sư trưởng 339. |
![]() |
| Ngôi mộ người lính tình nguyện vừa hy sinh sau cuộc tấn công đầu tiên vào Sư đoàn bộ 339 mùa khô 1984-1985. |
![]() |
| Hành trình về Cà Mau phỏng vấn gia đình đại úy Nguyễn Minh Cảnh thuộc Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 339. |
VIDEO CLIP
Bình luận về bộ phim:
Bình luận về bộ phim:
QUA MỘT LẦN HỘI THẢO
Những ngày cuối tháng 2, khi hoạt
động của phòng đang đi vào những nấc đầu tiên của vòng quay năm 1985, một cuộc
hội thảo về phim tài liệu truyền hình đã mở màn đúng lúc. Thổi luồng không khí
phấn khởi và thân ái về cho cả 2 đài truyền hình: TP Hồ Chí Minh và và Cần Thơ.
Nơi ấy đã hội tụ kinh nghiệm của những bộ óc miệt mài làm việc và những trái
tim tha thiết yêu nghề.
Nhiều bộ phim tài liệu, dài có,
ngắn có, công nghiệp có, nông nghiệp có… đã được trình chiếu, làm tiền đề cho
những tham luận, những bàn bạc nở ra đúng vào độ chín muồi của nó. Trong sự hạn hẹp của trang giấy này và trình độ còn non yếu của người viết, chỉ xin được nói đến một vấn
đề duy nhất. Như nhiều người đã cùng xem phim, tôi nhất trí một điều rằng: Các
phim tài liệu của Đài Truyền hình Cần Thơ có sức công phá rất mạnh vào những
tiêu cực xã hội, và ngay những vấn đề tưởng rất bình thường như thể hiện hình
ảnh của người chiến sĩ cũng được đề cập một cách sâu sắc. Chính ở sự mạnh dạn
này, hầu hết các phim đả làm cho người xem cảm nhận được sự ưu ái đối với cuộc
sống mà đội ngũ những người làm phim của Đài Truyền hình Cần Thơ đã gửi gắm vào
đó.
Chuyện mất rừng với một đám cháy
rừng, một lần lặn lội đi thăm con của bà mẹ chiến sĩ, một bước sai lầm của nhà
nước trong việc hợp tác hóa nông nghiệp… đều là những nỗi đau ray rứt và phải
tra9n trở đến dường nào một khi người cầm bút muốn thể hiện nó. Các phim: “Sau
bức màn xanh”, Những người tình nguyện”, “Chuyện nhà nông”, “Hãy nhìn cho rõ
mặt kẻ thù” đã được xây dựng bằng tất cả sức lực và tâm tư của đội ngũ sang
tác. Ngoài những thủ pháp về nghệ thuật quay và dựng phim, người xem nhìn thấy
trong đó có những điều gì?
Nếu như không cùng sống và thông
cảm cho người dân làm nghề rừng mà lại “không được vào rừng, không có quyền lợi
gì hết”, nếu như không có những lần tận mắt chứng kiến những cán bộ kiểm lâm
hoạnh họe dân chúng, nếu như không hề biết phẫn nộ trước sự vô tâm đến tàn nhẫn
của những người mệnh danh là “đi giữ rừng” mà lại vỗ tay khen ngọn lửa cháy
rừng là “đẹp”… thì làm sao bộ phim “Sau bức màn canh” lại có chiều sâu của nó?
Hơn nữa, nếu các tác giả chưa bao giờ hòa nhập cuộc sống cùng với những người
dân vùng rừng U Minh ấy mà chỉ đến thăm như một người cảnh “dạo cảnh xem hoa”
thì làm sao biết tình cảm của người ta đối với rừng như thế nào mà phản ánh
chuyện cháy rừng?
Nếu không có những tấm lòng biết
trân trọng sự hy sinh cao quí của những người chiến sĩ và của gia đình họ, nếu
như không có những cái nhìn thật đúng và nhân hậu trước cảnh sống thiếu thốn ở
nơi đầu song ngọn gió của bộ đội thì chắc chắn sẽ không có những cảnh cha mẹ
chờ đợi để thăm con, hay những cảnh phỏng vấn thân nhân ở tại quê hương của họ,
hoặc sẽ không có những hình ảnh người chiến sĩ bình dị mà gieo vào lòng người
xem tình cảm thật xúc động.
Giả sử trước kia phim “Sau bức
màn xanh” được giao cho một ê-kíp làm phim chưa từng nhìn thấy một mảnh rừng,
hay phim “Những người tình nguyện” được giao cho những tác giả chưa hề biết một
chút gì về người lính thì giá trị của phim sẽ ra sao? Cái lớn lao nhất trong
tất cả những vấn đề đặt ra tạo thành hang chuỗi câu hỏi thả vào mặt trái xã hội
chắc chắn không đi ra ngoài quỹ đạo của vốn sống.
Vốn sống phong phú là nền tảng
giúp cho đội ngũ làm phim nêu lên được những điều mà quần chúng quan tâm. Vốn
sống còn chuyển hóa thành một dạng khác, cũng giúp cho người làm phim thành
công khi sử dụng những hiểu biết về tâm lý, tình cảm để khai thác tâm tư của
từng đối tượng. Nói cách khác, vốn sống cũng chính là yếu tố quyết định sự
thành công hay thất bại cho thể phỏng vấn, thường có trong phim tài liệu. Điều
này đã được chứng minh một cách rõ rang trong phim “Chuyện nhà nông” hay phim
“Phù sa trẻ”.
Đặc điểm của vùng đồng bằng sông
Cửu Long là dân sống nhiều về nghề nông, cho nên người những làm công tác văn
hóa – nghệ thuật phải có một sự đồng cảm với suy nghĩ, cách nói năng của nông
dân thì mới vẽ nên chân dung và tính cách của họ chính xác được. Sự đồng cảm ở
đây không có nghĩa là người viết, người làm phim phải khoát lên mình cái áo
rách vá đùm vá đụm cho giống nông dân thì mới nói về nông dân được. Đành rằng
là quan điểm ngồi trong tháp ngà để nói về cảnh dầm mưa dãi nắng, châm lấm tay
bùn là hoàn toàn không thích hợp, nhưng nó có cần thiết hay không khi người ta
thực hiện nguyên tắc sang tác mới một cách máy móc như vậy? Tóm lại, sự đồng
cảm ở đây là là sự hòa nhập về tinh thần: Cụ thể trong lời nói, cách đi đứng,
cách đối xử, ăn uống… không có sự chênh lệch, khác biệt để tạo sự thoải mái,
gần gũi - là nét tính cách của người nông dân Nam Bộ. Nói thì dễ, nhưng không
phải một sớm một chiều thì bất kỳ người phóng viên nào cũng đi phỏng vấn thành
công được. Bước đi này - cũng giống như sự mạnh dạn công phá vào tiêu cực xã
hội – là cả một quá trình tích lũy lâu dài.
Vấn đề duy nhất mà người viết xin
được nói đến trong bài này qua những điều đã bàn ở trên: Không gì khác hơn là
kiến thức về cuộc sống. Để thu nhận được nhiều, người phóng viên phải lắng nghe
và quan tâm mọi thứ. Mà trong sự lắng nghe ấy, điều vô cùng cần thiết là phải
để cho trái tim cùng đập với cuộc sống. Chính vì lẽ đó, cuộc hội thảo về phim
tài liệu truyền hình đã đem lại nhiều thích thú, cũng tổng kết được nhiều kinh
nghiệm cho lớp đi sau học tập và kế tục. Dù ở thành phố Hồ Chí Minh hay ở Hậu
Giang thì mọi người đều có quyền biết và hiểu về cuộc hội thảo này, bởi vì học
tập là quyền lợi của tất cả những ai muốn được cống hiến, được làm việc.
Cần Thơ 21.4.86
MAI THỊ LIỄU
(Nội san Phòng Phim tài liệu, Đài Truyền hình Cần Thơ số 3 ra ngày
30.4.1986)


.jpg)







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét