Trong
tương lai không xa, những công nghệ như màn hình dẻo và nội dung tương tác sẽ
thay đổi mạnh mẽ cách chúng ta tiếp nhận thông tin và giải trí.
Seiko Epson, Samsung hiện
đang phát triển loại màn hình phát quang điện tử hữu cơ màu OLED lớn
nhất thế giới (kích thước 40 inch), hiển
thị hình ảnh rõ nét, lại tiết kiệm điện năng, dự định sẽ tung ra thị trường vào
năm 2007. Công ty cũng đang phát triển một loại giấy điện tử (e-paper) có thể
cuộn và gập lại (ảnh), thay thế cho các báo và tạp chí in trên giấy.
Các
trang của e-paper sẽ là các màn hình trên nền tảng các chất dẻo linh hoạt, có
độ mỏng là 0,2 mm, giá dưới 100 USD. Seiko Epson tin rằng họ có thể làm cho các
màn hình khổng lồ trở nên sáng và mềm dẻo đủ để tách ra và dính lên tường. Các
màn hình này có thể kết hợp công nghệ OLED với công nghệ bán dẫn, nằm trên chất
dẻo, có thể phủ toàn bộ các bức tường.
Hiện
giờ, đối thủ của các rạp chiếu phim không chỉ là hệ thống in sang băng, đĩa mà
còn là dịch vụ xem phim theo ý muốn, cho phép khán giả can thiệp vào cốt
truyện, thậm chí thay đổi bối cảnh và đạo cụ trong cảnh quay như dự án đang
được triển khai trị giá 7,5 triệu euro do EU tài trợ, mang tên "New Media
for a New Millennium".
Theo
nguồn tin từ Đài BBC, tác phẩm thử nghiệm đầu tiên là một bộ phim phát trên
truyền hình Phần Lan, nội dung điều chỉnh dựa vào tin nhắn của khán giả đang
xem. TS Doug Williams thuộc Hãng BT, Giám đốc dự án, cho biết: "Hiện tại,
chúng tôi đã có những trò chơi mang tính tương tác và một số lượng giới hạn các
kênh truyền hình tương tác cho phép khán giả biểu quyết về phương hướng của
những chương trình sẽ trình chiếu".
Tính
đại chúng của truyền hình còn được mở rộng khái niệm qua sự kiện "WebTotal
TV & Radio Tuner" ra mắt dịch vụ xem tivi, nghe radio qua máy tính
bằng 6 ngôn ngữ: Anh, Pháp, Italia, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Người ta có
thể xem được 551 kênh truyền hình từ 75 nước và 2.800 đài phát thanh trực tuyến
từ 140 nước; thay đổi kích cỡ màn hình và giao diện chương trình khi xem.
Như
vậy, cuộc tranh cãi bất tận giữa điện ảnh và truyền hình về chuyện một bên là
màn ảnh đại vĩ tuyến chỉ phục vụ người xem trong các rạp chiếu phim, một bên là
màn ảnh nhỏ phục vụ người xem trong bối cảnh gia đình ngày càng trở nên không
cần thiết. Nếu e-paper giá dưới 100 USD là phương tiện nghe nhìn thịnh hành,
sản phẩm điện ảnh hay truyền hình e rằng chỉ có thể đến với đại chúng qua các
tờ báo điện tử, đúng hơn là qua các công cụ đa phương tiện.
28.7.2005
LÊ VŨ TUẤN
(Nhân Đại hội Điện ảnh VN lần thứ VI)
Đọc thêm:
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Điện ảnh
Việt Nam
lần thứ VI
![]() |
| Đoàn đại biểu ĐBSCL tại đại hội |
Từ
ngày 28-30.7.2005 tại Hội trường Ba Đình đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc
Hội Điện ảnh Việt Nam
lần thứ VI. Tại đây, các Chi hội Điện ảnh khu vực ĐBSCL, bao gồm:
Chi
hội Trung tâm truyền hình VN tại Cần Thơ (có cả Đài PTTH TP Cần Thơ, Đài PTTH
Bến Tre, Đài PTTH Đồng Tháp, Văn phòng ĐBSCL Báo Lao Động, Trung tâm Sức khoẻ
lao động và Môi trường TP Cần Thơ, Cty CP Điện ảnh TP Cần Thơ); Chi hội Đài
PTTH Cà Mau (có cả Đài PTTH Kiên Giang, Đài PTTH Bạc Liêu); Chi hội Đài PTTH
Vĩnh Long đã tham gia các hoạt động chung của đại hội dưới đây:
-Đọc
tham luận “Tiếng lòng từ vùng đất hoang” - Đạo diễn Nguyễn Trung Hiếu (Trung
tâm truyền hình VN tại Cần Thơ) trình bày, được đồng nghiệp cả nước hoan nghênh
nhiệt liệt.
-Tham
gia Ban thư ký đại hội – Nhà báo Lê Vũ Tuấn (Văn phòng ĐBSCL Báo Lao Động).
-Tham
gia Ban bầu cử đại hội - Đạo diễn Mạnh Thu Hồng (Trung tâm truyền hình VN tại
Cần Thơ)
L.V.T
(Website Văn nghệ sông Cửu Long
3.8.2005)
TIẾNG LÒNG TỪ VÙNG ĐẤT HOANG
Từ
vùng đất xa xôi nhất của đất nước, chúng tôi mang đến đại hội những nỗi lòng,
và hãy cho phép chúng tôi được trình bày như những điều tâm sự, với tiêu đề
tham luận: “Tiếng lòng từ vùng đất hoang”. Chúng tôi xin nói ngay rằng, sỡ dĩ
dám mạo muôi cất lên tiếng lòng từ vùng đất hoang là vì muốn mô tả một hiện
thực buồn. Ai cũng biết ĐBSCL là nơi sản xuất lúa gạo chủ yếu cho đất nước -
không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu. Không thể tưởng tượng được nếu vào một
ngày nào đó, nông dân ở vùng đất này bổng nhiên tuyên bố sẽ nghỉ làm ruộng vài
tháng để đi nghỉ mát thì tình hình đất nước sẽ xấu đến mức nào. Chúng tôi muốn
nói rằng đây là lực lượng quyết định cái đói cái no của cả nước. Thế nhưng
không có sự công bằng nào để đáp trả lại công lao đó của họ. Sự thật, hiện nay
dân trí của vùng đất hơn 21 triệu dân này đang được xếp vào loại thấp nhất,
ngang với miền núi, vùng dân tộc ít người. Một xứ sở nhiều gạo, nhiều cá tôm
nhất nước, nhưng người dân ở đây lại nghèo đói về văn hoá. Và điều chúng tôi
muốn nói rõ hơn ở đây là ĐÓI ĐIỆN ẢNH. Đại hội có tưởng tượng được rằng, toàn
vùng ĐBSCL hiện nay chỉ có một hai rạp chiếu phim. Không người nông dân nào
chịu cất công đi hàng trăm cây số để đến các rạp ở trung tâm thị xã. Lứa tuổi 30
ở vùng đất này rất ít biết đến điện ảnh. Điện ảnh đối với họ chỉ là cái ánh
điện lờ mờ. Chúng tôi đoan chắc rằng 90% số người ở lứa tuổi này chưa bao giờ
đến rạp chiếu bóng. Từ cái đói điện ảnh, cái khát văn hoá đó, khi bắt đầu xuất
hiện việc tivi chiếu phim Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc và gần đây là Hàn
Quốc thì nông dân ĐBSCL quay sang ngấu nghiến món ăn tinh thần là các phim
ngoại này. Thực tế cho thấy, ở ĐBSCL có tất cả 13 đài địa phương và 1 đài khu
vực, thêm 2 sóng nữa của VTV, sau 19 giờ người dân ở đây có thể xem rất nhiều
phim ngoại trên các sóng này. Có những thời điểm 13 đài là 13 phim Hồng Kông,
Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc cùng phát. Thật là buồn biết bao, nếu không muốn
nói đây là một nỗi nhục của những người làm phim điện ảnh và phim truyền hình.
Tại sao chúng tôi nói như vậy? Bởi lâu nay chúng ta từng biết thế nào là nỗi
nhục mất nước. Còn bây giờ, chúng ta đang sống trong một đất nước độc lập, tự
do, hơn nữa đã qua 20 năm đổi mới, vậy mà chúng ta phải chịu cảnh nô dịch văn
hoá đến như thế. Chúng ta phải suy nghĩ như thế nào đây khi chúng ta cứ luôn
luôn nhắc đi nhắc lại cái khẩu hiệu: “Nền điện ảnh tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc”?
Kính
thưa đại hội,
Là
các hội viên từ mảnh đất ĐBSCL, chúng tôi thiết nghĩ rằng đã đến lúc nền điện
ảnh của chúng ta cần có một “KHOÁN 10”. Chúng tôi xin dùng lại cụm từ đổi mới
cơ chế quản lý nông nghiệp cách nay 20 năm để chỉ ra sự cần thiết đối với điện
ảnh hiện nay. Còn nhớ, chúng ta mất 10 năm để tìm lối đi cho nông nghiệp với mức
phấn đấu 21 triệu tấn lương thực. Loanh quanh mãi tới có “khoán 10” thì lương
thực dư ngay. Điều đó khiến chúng tôi nghĩ rằng Luật Điện ảnh ra đời, với sự
tháo gỡ trói buột trong quản lý và cắt hẳn cái đuôi bao cấp, điện ảnh chúng ta
sẽ có một bước phát triển mới và nhanh nhất. Và như vậy, ở ĐBSCL, người dân cần
cù lao động sẽ hưởng thụ được mức sống văn hoá bình đẳng với các vùng miền khác.
Có
một hệ quả mà ai cũng biết là không tiếp cận với điện ảnh, làm sao xuất hiện
những tài năng điện ảnh. Muốn vậy, một trong những biện pháp tốt nhất là chúng
ta, đặc biệt ở ĐBSCL, Hội Điện ảnh phải là người chủ trì nâng cao dân trí điện
ảnh, hoặc cũng có thể gọi là giáo dục điện ảnh - điều mà lâu nay chúng ta chỉ
ngồi trên cao, coi quần chúng là thấp hèn. Bây giờ, cần thiết phải tổ chức nâng
cao để điện ảnh thực sự là nghệ thuật của công chúng. Biện pháp cụ thể là Hội
Điện ảnh hợp tác với truyền hình để xây dựng các chương trình tìm hiểu điện ảnh.
Thực
tế chỉ ra rằng sự phân chia điện ảnh và truyền hình ngày càng trở nên không cần
thiết, bởi giá trị lớn nhất của 2 bên (so với các ngành nghệ thuật khác) là ở
tính đại chúng. Cùng nhau hướng đến đại chúng, mọi sự khác biệt chỉ là điều nhỏ
nhoi. Tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ làm ra những màn hình tivi (đúng hơn là màn
hình máy tính) “cực lớn”, lớn hơn cả màn ảnh đại vĩ tuyến dành cho đám đông
cũng như “cực nhỏ”, nhỏ hơn cả màn hình tivi nhỏ nhất dành cho cá nhân trong
tương lai gần. Điện ảnh hay truyền hình tất yếu có chung một mục đích là phục
tùng khán giả, bởi chính họ là “quyền lực cao nhất”, cao hơn đại hội đại biểu
toàn quốc của chúng ta hôm nay. Tuy vậy, có người còn cho rằng, truyền hình là
báo chí, không xếp vào nghệ thuật điện ảnh được, dù trên thực tế truyền hình
còn là kênh truyền thông, chuyển tải cả điện ảnh. Xu hướng đa phương tiện
truyền thông là tất yếu. Thiết nghĩ hội chúng ta phải nhận thức rõ tính chiến
lược đó.
Chúng
tôi nghiên cứu dự thảo văn kiện và nhận thấy nó chưa quán triệt tinh thần này:
-Hoạt
động điện ảnh thì được đặt trong mối tương quan hợp tác - cạnh tranh khu vực và
quốc tế, còn hoạt động truyền hình thì không. Sự thật 5 năm qua không phải như
vậy. Truyền hình Việt Nam
được đầu tư rất lớn, phủ sóng đến nhiều châu lục, bằng nhiều ngôn ngữ khác
nhau, quan hệ hợp tác – cạnh tranh khu vực và quốc tế diễn ra rất sôi động. Xin
đơn cử việc hợp tác giữa Hãng phim truyền hình TP. Hồ Chí Minh với đồng nghiệp
Hàn Quốc, đồng nghiệp Thái Lan tiếp thu công nghệ tiên tiến của họ để sản xuất
nhanh và đạt chất lượng nghệ thuật cao là những thí dụ sinh động.
-Ngay
trong hoạt động điện ảnh, dự thảo văn kiện cũng chưa ghi nhận đúng mức sự đóng
góp của các tài năng là kiều bào nước ngoài. Chỉ kể biên kịch, đạo diễn thôi đã
có Hồ Quang Minh, Trần Anh Hùng, Nguyễn Võ Nghiêm Minh…, nếu kể thêm diễn viên,
quay phim, âm thanh, ánh sáng, phát hành… còn cả danh sách dài. Chắc chắn điện
ảnh Việt Nam
chưa thu hút sự chú ý trên thế giới như ngày nay nếu không có phần đóng góp của
họ.
Chúng
tôi cũng nhận ra dự thảo văn kiện chưa chú ý đúng mức đến lực lượng hoạt động
điện ảnh và cả truyền hình ngoài quốc doanh (gồm tư nhân, liên doanh, 100% vốn
đầu tư nước ngoài) đang và sẽ phát triển mạnh khi Việt Nam gia nhập WTO. Bởi
vậy chúng ta còn sử dụng những cụm từ không hợp thời trong Dự thảo sửa đổi Điều
lệ Hội. Như tên gọi “Hội những người làm công tác điện ảnh và phim truyền hình
Việt Nam ”.
“Công tác” mang hàm nghĩa là những người làm điện ảnh, truyền hình quốc doanh,
không chấp nhận yếu tố tư nhân, liên doanh, 100% đầu tư nước ngoài, không chấp
nhận yếu tố Việt kiều, yếu tố ngoại quốc. Nên chăng sửa thành “Hội những người
hoạt động vì sự phát triển của điện ảnh và truyền hình Việt Nam”, với hàm nghĩa
dung nạp tất cả, kể cả tài năng nước ngoài, miễn sao các đối tượng này tán
thành mục đích, tôn chỉ của Hội và trong thực tế có đóng góp cụ thể cho sự phát
triển của điện ảnh và truyền hình Việt Nam.
Chúng
tôi cũng cảm nhận sâu sắc rằng chừng nào Hãng phim của Hội Điện ảnh Việt Nam
chưa làm ra những tác phẩm lớn thì hội viên chúng ta vẫn còn hổ thẹn - hổ thẹn
với đồng bào trong nước, hổ thẹn với đồng nghiệp nước ngoài. Trước hết, Hội
Điện ảnh là hội nghề nghiệp mà lại chưa tỏ rõ tay nghề. Kế đến, Hội Điện ảnh
phải sống được bằng nghề của mình, mọi ý định dựa vào ngân sách đều không thức
thời, nhất là khi Việt Nam
gia nhập WTO. Vấn đề lớn nhất của Hội trong 5 năm tới là tập hợp những người có
nghề và khẩn cấp nâng cao tay nghề.
-Để
“tập hợp những người có nghề” đương nhiên phải nêu cao dân chủ, thực sự dân chủ
trong nội bộ Hội. Một phương tiện tốt để phục vụ dân chủ là Tạp chí “Thế giới
điện ảnh” nên tiến tới mở thêm website để trên – dưới, trong – ngoài đều có thể
trao đổi ý kiến, thông tin thường xuyên về mọi vấn đề, lập thư viện điện ảnh và
truyền hình trên mạng, thi sáng tác kịch bản trên mạng.
-Để
“khẩn cấp nâng cao tay nghề”, Ban chấp hành Hội cần tạo cơ sở pháp lý để mọi
chi hội đều có thể thành lập trung tâm đào tạo hoặc liên kết mở lớp đào tạo,
đáp ứng nhu cầu phát triển điện ảnh và truyền hình ở từng vùng miền. Đã đến lúc
chúng ta cần có một học viện chung - Học viện Điện ảnh và Truyền hình. Hội sẽ
có một hệ thống đào tạo xuyên suốt từ trung ương đến địa phương mới hy vọng tạo
nên sức bật từ thế hệ trẻ. Từ đồng bằng sông Cửu Long xa xôi, chúng tôi kiến
nghị với Hội rằng, quyền lợi của hội viên không chí có phát không một quyển Tạp
chí “Thế giới điện ảnh” là đủ, mà chúng tôi rất cần việc giao lưu, trao đổi
kinh nghiệm với đồng nghiệp. Chưa bao giờ thấy Trung ương Hội tổ chức một hoạt
động gì ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, một trong những cái nôi quan trọng
vốn đã sản sinh ra nền điện ảnh cách mạng Việt Nam .
Vốn
là những hội viên của các chi hội ở vùng ĐBSCL xa xôi, nơi có mặt bằng dân trí
thấp, nơi đói khát điện ảnh nhất, chúng tôi không biết dẫn lời các bậc hiền
triết để thay lời kết luận mà chỉ xin nêu câu nói của ông nông dân đất mũi Cà
Mau: “Điện ảnh của tụi mầy đâu mất tiêu rồi!”
Xin
cảm ơn.
(Tham luận của Chi hội Điện ảnh thuộc
Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ do đạo diễn Nguyễn Trung Hiếu trình
bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Điện ảnh Việt Nam nhiệm kỳ VI - Hà Nội
28-30.7.2005)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét