Thật
khó đòi hỏi ở một “ĐH vùng” những nghiên cứu khoa học (KH) mang tầm quốc tế,
nhưng cuộc trao đổi giữa PV Lao Động với PGS.TS Nguyễn Thanh Phương – Trưởng
khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ – lại chỉ ra
rằng các nhà khoa học KH đồng bằng đã “vượt lên chính mình”, góp phần chủ yếu
vào kỳ tích xuất khẩu cá da trơn của VN và hơn thế nữa.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Thanh Phương |
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRA, CÁ BASA
Ưu
thế hàng đầu của VN trong cuộc cạnh tranh xuất khẩu cá da trơn trên qui mô toàn
cầu là chủ động nguồn giống bằng kỹ thuật sinh sản nhân tạo (SSNT) mà theo
PGS.TS Nguyễn Thanh Phương, quá trình nghiên cứu KH để tìm ra nó vẫn còn nhiều
thông tin chưa chính xác được loan trên báo chí. Ông nói:
-Sau
năm 1975, nghề vớt và ương giống cá tra, cá basa vẫn được ngư dân 2 tỉnh An
Giang, Đồng Tháp thực hiện, nhưng sản lượng khai thác trong lưu vực hàng năm
biến động, thường không đủ cá giống cung cấp cho người nuôi, đặc biệt sau khi
Cty Agifish bắt đầu xuất khẩu. Từ năm 1978, Trường Trung cấp Nông nghiệp
Long Định (Tiền Giang) đã phối hợp với ĐH Nông nghiệp IV (nay là ĐH Nông Lâm
TPHCM) bắt tay nghiên cứu, đến tháng 6.1979 thì SSNT thành công lứa cá tra đầu
tiên do PGS.TS Nguyễn Tường Anh và TS Phạm Văn Khánh cùng cộng sự thực hiện.
Nhưng kết quả trên đã không được lặp lại, cho thấy đây là thành công bước đầu
và chưa có đủ nền tảng KH vững chắc. Đến năm 1980, Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ và
Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 cũng vào cuộc và đạt được một số kết quả
nhất định, nhưng chưa thể cung cấp lượng cá giống đủ lớn. Từ năm 1995-1998,
thông qua đề tài nghiên cứu hợp tác do Cộng đồng Châu Âu tài trợ, Khoa Thủy sản
ĐH Cần Thơ đã cùng Cty Agifish và 2 tổ chức CIRAD, ORSTOM của Pháp kích thích
SSNT cá tra và cá basa thành công. Đến năm 2000 thì kỹ thuật SSNT cơ bản hoàn
thiện, từng bước ứng dụng vào sản xuất đại trà thông qua tập huấn và tư vấn kỹ
thuật mà Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ là đơn vị khởi xướng và đóng vai trò quan
trọng.
+Nghiên cứu chung với Pháp, phải chăng
kỹ thuật SSNT cá tra, cá basa không phải là “phát minh độc quyền” của VN?
-Năm
1995, khi cùng CIRAD và ORSTOM thực hiện đề tài hợp tác, phía Pháp cử nghiên
cứu sinh và chuyên gia sang VN cùng phối hợp thực hiện nhiều nghiên cứu tại
Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ và Cty Agifish. Các bên đều rất cố gắng và “chìa khóa”
để giải quyết vấn đề đã được tìm ra, mà “mấu chốt” là kỹ thuật tiêm kích dục tố
cho cá tra cái nhiều lần, khác với những nguyên lý đã làm trước đó là chỉ tiêm
1-2 lần như với các loài cá thông thường. Kết quả đạt được, có thể nói, công
đầu là từ Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ.
+Có một số trường hợp tự nhận mình là
đơn vị SSNT cá tra, cá basa đầu tiên ở ĐBSCL...
-Chúng
tôi có dịp tìm hiểu và ghi chép lại quá trình phát triển của nghề sản xuất
giống và nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL thì thấy những trại giống đầu tiên ra đời đều
có sự hỗ trợ của cán bộ kỹ thuật tham gia vào đề tài nghiên cứu SSNT mà chúng
tôi đã đề cập. Một số nông dân mạnh dạn đầu tư xây dựng trại cá giống trong
những ngày đầu là Trại Hồng Mỹ (của ông Hai Nấm), Trại Hưng Phú, Trại Phú Thành
(thuộc huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp), Trại sản xuất giống cá tra Nguyễn Văn Thọ và
Trại sản xuất giống thủy sản Mỹ Châu của Cty Agifish (tại thị xã Châu Đốc, An
Giang).
Xin
nói thêm, về mặt nghiên cứu KH thì từ năm 2002, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy
sản 2 đã triển khai đề tài cải thiện chất lượng di truyền của đàn cá tra bố mẹ,
đến nay đã chọn lọc và bắt đầu chuyển giao khoảng 100.000 con cá tra bố mẹ hậu
bị cho các trung tâm giống thủy sản ở 6 tỉnh trọng điểm: Đồng Tháp, An Giang,
Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre và Cần Thơ. Kết quả nuôi khảo nghiệm tại Trung
tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ cho thấy, con giống của đàn cá tra
bố mẹ này có cải thiện tốc độ tăng trưởng.
XUẤT KHẨU CÔNG NGHỆ TÔM CÀNG XANH VÀ
ARTEMIA
+Được biết, tôm càng xanh (TCX) cũng là
đối tượng được đặc biệt chú ý?
-Đúng
vậy. Từ năm 1999, Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng mô
hình mới trong ương ấu trùng TCX là “nước xanh cải tiến” do TS Ang Kok Jee khởi
xướng tại Malaysia năm 1986. Đến năm 2000 thì bắt đầu kết hợp với hầu hết các
tỉnh tổ chức tập huấn hơn 20 khoá cho hơn 200 người. Hiện nay, ĐBSCL có hơn 100
trại giống, đạt sản lượng hơn 150 triệu tôm bột/năm. TCX đã trở thành đối tượng
nuôi quan trọng, không chỉ ở vùng nước ngọt, mà còn vùng nước lợ hoặc nuôi luân
canh với tôm sú. Công nghệ sản xuất giống TCX của ĐH Cần Thơ đã được chuyển
giao cho Campuchia, Ấn Độ và Benin .
+Và thành tựu nổi bật thứ ba...
-Khoa
Thủy sản ĐH Cần Thơ cũng là đơn vị đầu tiên ở VN thành công trong việc du nhập
và phát triển công nghệ sản xuất trứng bào xác artemia. Từ năm 1984-1986, thông
qua các chương trình hợp tác quốc tế, nhất là chương trình do FAO tài trợ,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu kỹ thuật nuôi artemia trên ruộng muối tại huyện
Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và sau đó, lan rộng sang thị xã Bạc Liêu (Bạc Liêu) với
sự phối hợp chặt chẽ của chuyên gia thuộc ĐH Ghen (Bỉ) và của Hà Lan. Đến năm
1989 thì công nghệ này bắt đầu được quảng bá rộng rãi đến nhiều vùng miền trong
cả nước. Trứng bào xác sản xuất tại VN cho chất lượng cao, được sử dụng nhiều
trong kỹ thuật sản xuất giống nhiều đối tượng thủy sản, nhất là tôm sú và cá
biển. Hàng năm, vùng Vĩnh Châu – Bạc Liêu có thể sản xuất từ 17-20 tấn trứng
artemia thành phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, giúp diêm dân đạt mức
thu nhập gấp 3-4 lần làm muối. Chúng ta không chỉ xuất khẩu artemia mà còn
chuyển giao công nghệ đến nhiều quốc gia như: Cuba , Iran , Ấn Độ, Sri
Lanka , Pakistan , Kenya ,Mozambique ... Trong lĩnh vực nghiên
cứu artemia, VN đã đóng góp nhiều thành tựu cho nền KH thế giới.
31.3.2011
LÊ VŨ TUẤN thực hiện

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét