Kỷ niệm 45 năm thành lập chính là dịp để các nhà khoa học (KH) trực thuộc Trường ĐH Cần Thơ nhìn lại những đóng góp có giá trị quốc gia và quốc tế liên quan đến vị trí cường quốc xuất khẩu gạo và nhiều loại nông, thủy sản quan trọng khác của VN trên thị trường thế giới. Một trong những đóng góp nổi bật nhất là công cuộc cải tạo đất ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau và nhiều vùng đất có vấn đề của ĐBSCL mà chính họ là lực lượng đi đầu. Bây giờ, trước áp lực của biến đổi khí hậu toàn cầu, các nhà KH đất của ĐH Cần Thơ lại “lãnh ấn tiên phuông” với các dự án cải tạo đất, xây dựng mô hình canh tác thích ứng với xâm nhập mặn và đặc biệt cho ra sản phẩm đạt chuẩn Global GAP.
Nhân ngày trọng lễ, nữ tiến sĩ (TS) Võ Thị Gương, một trong 5 giảng viên được phong hàm giáo sư (GS) của ĐH Cần Thơ sau 36 năm thống nhất đất nước, chia sẻ với phóng viên Báo Lao Động về công việc của mình và đồng nghiệp trên hướng đi còn mới mẽ này.
![]() |
GS.TS Võ Thị Gương
|
Là thế hệ tiếp nối của 2 vị GS.TS rất nổi tiếng xuất thân từ ĐH Cần Thơ là GS.TS Võ Tòng Xuân và GS.TS Trần Phước Đường, trước tiên xin cô có vài ý kiến về sự đóng góp của họ trong giai đoạn đầu chinh phục đất phèn ĐBSCL?
GS.TS Võ Tòng Xuân và GS.TS Trần Phước Đường là những nhà KH lớn, tận tụy với sự phát triển của ĐBSCL. Các thầy đã tận tình truyền đạt kiến thức và dìu dắt chúng tôi ngay từ những bước nghiên cứu đầu tiên. Sau khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống mọi người đều khó khăn, thiếu thốn. Lúc ấy VN còn phải nhập khẩu gạo. Vì thế, tăng năng suất, sản lượng lúa là mục tiêu hết sức quan trọng cho những người làm công tác nghiên cứu KH tại ĐH Cần Thơ. Dịch rầy nâu lại bộc phát khắp nơi. Thầy Võ Tòng Xuân, thầy Nguyễn Văn Huỳnh và các thầy cô khác đã cùng sinh viên của Khoa Trồng trọt (nay là Khoa Nông nghiệp và sinh học ứng dụng) tập trung hết sức lực để chọn tạo giống lúa kháng rầy và tìm biện pháp kiểm soát dịch hại. Thầy cô cùng các kỹ sư nông nghiệp tương lai tỏa về khắp các vùng sản xuất lúa để hướng dẫn kỹ thuật cấy lúa một tép (chỉ cấy một nhánh lúa) để tiết kiệm giống kháng rầy mà nhiều nông dân lúc ấy còn nỗi giận khi nhóm sinh viên trẻ đến thuyết phục.
Song song với việc dẹp dịch rầy nâu là vấn đề khai thác diện tích đất phèn còn hoang hóa. Các thầy đã chủ trì các chương trình (CT) hợp tác với Hà Lan, gọi tắt là VH (như VH 10 là CT hợp tác nghiên cứu sử dụng đất phèn) và các nghiên cứu liên quan đến cố định N sinh học. Riêng thầy Trần Phước Đường đã tìm ra và chế tạo được chế phẩm vi sinh giúp tăng cường cố định N sinh học cho cây trồng, giảm lượng phân N bón vào đất. Các CT hợp tác này đã đào tạo rất nhiều nhà KH đầu đàn trong lĩnh vực KH đất và lĩnh vực Vi sinh học của ĐH Cần Thơ hiện nay và quan trọng hơn hết là góp phần vào kỳ tích xuất khẩu gạo của đất nước, trong đó 90% là từ ĐBSCL. Qua đó, cho thấy thành công của VN trong mắt các nhà KH đất thế giới là thành công rất tầm cỡ trên những cánh đồng hoang hóa từ thời Pháp thuộc.
![]() |
| Chọn tạo giống lúa kháng rầy |
Sau 30 năm công tác tại ĐH Cần Thơ, GS.TS Võ Thị Gương đã chủ trì xây dựng 5 chương trình đào tạo ĐH và sau ĐH; từ năm 2010 phụ trách chung và quản lý các CT đào tạo sau ĐH; trực tiếp giảng dạy các môn ở bậc đại học và cao học: Phì nhiêu đất, Chất hữu cơ trong đất, Các trở ngại của đất trong sản xuất nông nghiệp, Nông nghiệp sạch và bền vững… nên cũng là người đóng vai trò chủ chốt trong việc hiện đại hóa bộ môn KH đất ở vùng ĐBSCL.
Cải tạo đất phèn và các loại đất có vấn đề luôn đòi hỏi giải pháp tổng hợp, đòi hỏi sự phân tích sâu hơn theo từng hệ sinh thái, không chỉ canh tác mà cả nuôi trồng?
Sản xuất nông nghiệp bền vững là yêu cầu đặt ra từ lâu trên thế giới và ở nước ta. Đó là sự quản lý thành công trong canh tác, vừa đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, đồng thời vẫn duy trì, tăng cường chất lượng môi trường đất, nước, không gây ô nhiễm môi trường. Cải thiện và duy trì độ màu mỡ của đất là yếu tố thiết yếu trong phát triển nông nghiệp bền vững. ĐBSCL tuy được xem là vùng đất trù phú, nhưng diện tích đất có vấn đề như đất phèn, đất bạc màu rất lớn.
Để cải tạo và sử dụng hiệu quả các nhóm đất này, biện pháp tổng hợp luôn là cần thiết. Thí dụ trên đất phèn là loại đất rất chua, nghèo dinh dưỡng, nhiều độc chất sắt, nhôm gây hại cho cây trồng. Do đó năng suất đạt rất thấp, thậm chí không thể canh tác, nếu không có kỹ thuật thích hợp. Biện pháp tổng hợp đã áp dụng thành công là hệ thống tưới tiêu rữa phèn, rữa độc; tăng cường các loại dinh dưỡng quan trọng như N, P, Ca, phân hữu cơ; chọn cây trồng thích hợp như lúa, khóm, mía, khoai mỡ, tràm...
Gần đây, chúng tôi đã nghiên cứu thêm được các loại cây trồng phát triển tốt trên đất phèn với biện pháp cải tạo nêu trên như: Bắp, bắp rau, khoai môn, dưa hấu, gấc, rau cải.
Trên đất phù sa bạc màu canh tác lúa, cây ăn trái, biện pháp quản lý dinh dưỡng tổng hợp là yếu tố vô cùng quan trọng bên cạnh quản lý dịch hại tổng hợp. Trong đó, luân canh lúa với cây trồng cạn, phơi đất 2-3 tuần trước khi gieo sạ nếu canh tác 3 vụ liên tục, cung cấp dinh dưỡng cân đối, đặc biệt sử dụng phân hữu cơ vi sinh là những giải pháp hiệu quả.
Chất lượng đất và các trở ngại của đất trong hệ thống lúa - tôm, lúa – cá - tôm, tôm thâm canh và quảng canh, ao nuôi artemia trong hệ sinh thái bị ảnh hưởng mặn cũng được nhóm chúng tôi nghiên cứu và tìm ra biện pháp khắc phục.
Các công trình nghiên cứu chủ yếu của GS.TS Võ Thị Gương và cộng sự đều tập trung giải quyết các trở ngại của đất trong canh tác cây trồng trên đất phèn, đất phù sa, đất cát, đất bạc màu, và các trở ngại của đất trong vuông nuôi thuỷ sản, hệ thống canh tác lúa-tôm, tôm, artemia ở các vùng ven biển … Có thể nói trong bộ nhớ của bà là cả kho giải pháp “biến đất thành vàng” trong thời kỳ biến đổi khí hậu ở vùng ĐBSCL.
![]() |
| Phân tích chất lượng đất để đưa ra giải pháp tổng hợp |
Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phần lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL sẽ bị ngập mặn, các nhà KH đất của ĐH Cần Thơ đã có những động thái gì?
Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu KH của ĐH Cần Thơ được thực hiện rất năng động và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Hiện nay, việc giải quyết các trở ngại của đất trong canh tác nông nghiệp trên các vùng sinh thái được quan tâm song song với việc xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp đạt chứng nhận Global GAP. Chúng tôi đã xây dựng thành công mô hình đạt chuẩn Global GAP trên lúa tại huyện Châu Thành A (Hậu Giang) và đang tiếp tục trên cây bắp rau tại huyện Chợ Mới (An Giang), cây hồ tiêu tại huyện Phú Quốc (Kiên Giang), cây gấc tại huyện Tri Tôn (An Giang) và cây ca cao trồng xen trong vườn dừa tại tỉnh Bến Tre. Hướng tới là Global GAP trên các loại cây ăn trái như măng cụt, chôm chôm...
Xâm nhập mặn sẽ đưa đến sự suy giảm chất lượng đất, nước, sản lượng nông nghiệp và thuỷ sản, ảnh hưởng bất lợi đến đời sống nông dân ĐBSCL. Vấn đề đặt ra là tìm biện pháp giảm bớt ảnh hưởng bất lợi; tăng năng suất cây trồng; xác định hệ thống canh tác đạt hiệu quả kinh tế cao, thích nghi với sự thay đổi vùng sinh thái ngọt sang sinh thái mặn, lợ; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước ngọt trong canh tác… Đây là những hướng nghiên cứu của các nhà KH đất và KH môi trường thuộc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu ĐH Cần Thơ.
GS.TS Võ Thị Gương sinh năm 1955, quê
quán An Giang, tốt nghiệp ngành Trồng trọt ĐH Cần Thơ năm 1980, được giữ lại
trường giảng dạy tại Bộ môn Nông hoá - Thổ nhưỡng (nay là Bộ môn Khoa học
đất). Từ năm 1987-1989, học thạc sĩ tại ĐH Nông nghiệp Wageningen (Hà Lan).
Từ năm 1995-2000, học tiến sĩ tại ĐH Nông nghiệp
|
31.3.2011
Lê Vũ Tuấn thực hiện



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét