Đứng chân trên vùng hạ lưu sông Mekong cuồn cuộn phù sa, suốt gần nửa thế kỷ qua, Đại học (ĐH) Cần Thơ được ví như “cỗ máy cái” miệt mài cung cấp chất xám giúp cho đất Chín rồng cất cánh. Và đội ngũ “thợ cả”của ngôi trường trọng điểm quốc gia ở vựa lúa, vựa cá tôm, vựa trái cây do chính họ góp phần đắc lực để tạo ra đã có sau lưng những trang sử… lạ lùng. Sở dĩ phải chọn dùng 2 chữ “lạ lùng” bởi không đâu trên đất nước này có một trường ĐH mà người dân phải quyết liệt đấu tranh mới được thành lập và sau khi ra đời không phút giây nào xa rời ý nguyện của người dân. Quan hệ máu thịt ấy đã giúp trường nhân đôi sức mạnh mà đỉnh điểm là năm 2005: Ngày đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động cũng là ngày khởi động Chương trình “Mekong 1.000”, thể hiện bản lĩnh khoa học và ý chí chính trị rất cao trong thời kỳ hội nhập.
![]() |
Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động và khởi động
Chương trình “
|
ĐẠI HỌC TỪ LÒNG DÂN
“Vào giữa năm 1965, trên các báo ở Sài Gòn xuất hiện đều đặn những bài viết bàn về sự cần thiết phải có một viện ĐH cho miền Tây. Dư luận lúc ấy khá xôn xao. Những tờ báo như Đất Tổ, Tin Sáng… nhiệt liệt ủng hộ. Báo Sóng Thần lại viết bài đả kích. Cuối cùng, ý kiến tán thành trở thành số đông. Tất cả những bài viết tạo dư luận lúc ấy đều xuất phát từ Cần Thơ, tuy của nhiều tác giả nhưng lại từ một gốc mà ra. Gốc đó là Ban vận động thành lập Viện ĐH miền Tây, đứng đầu là bác sĩ Lê Văn Thuấn - Hội trưởng Hội Phụ huynh học sinh (PHHS) 2 trường trung học (TH) Đoàn Thị Điểm và Phan Thanh Giản, kiêm Hội trưởng Hội PHHS miền Tây”.
Tôi được đọc những dòng nêu trên lần đầu tiên tại nhà riêng của ông Lê Văn Quới, nguyên Thư ký Ban vận động, nằm trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường An Cư, quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ vào giữa tháng 3, khi còn 2 tuần nữa là đến ngày ĐH Cần Thơ kỷ niệm 45 năm thành lập. Hàng năm, cứ vào thời điểm này là lòng ông thầy giáo già của Trường TH Phan Thanh Giản, nay là Trường THPT Châu Văn Liêm, rất nổi tiếng ở Cần Thơ về biệt tài dạy văn và viết văn, lại đong đầy cảm xúc, “nhớ người xưa để nhớ ngày xưa”.
“Năm 1978, bác sĩ Thuấn đã ra người thiên cổ” – thầy Quới vừa nói vừa chỉ tôi xem tấm ảnh “người xưa” in kèm bài viết do chính ông chấp bút trong quyển tập san đã ố màu thời gian. “Làm sao kể hết những nỗi vất vả, sự kiên trì, cách xử sự tế nhị mà người bác sĩ có tấm lòng này đã luồn lách giữa bao nhiêu thế lực bủa vây để tranh thủ vận động từ trong tỉnh ra ngoài tỉnh, từ địa phương đến trung ương lúc đó. Và cũng không sao kể hết tấm lòng của biết bao thân hào, nhân sĩ, trí thức, giáo chức của cả miền Tây. Có thể có nhiều chính kiến khác nhau, nhưng tất cả đã tìm đến nhau với cùng một quyết tâm là phải thành lập cho được Viện ĐH miền Tây, vì tương lai của thế hệ trẻ”.
| Thầy giáo Lê Văn Quới |
Là một trong số ít nhân chứng lịch sử còn sống, thầy Quới kể lại khá chi tiết cuộc đấu tranh kéo dài gần một năm của nhân dân miền Tây với chính quyền ngụy Sài Gòn để có được Sắc lệnh 62-SL/GD ký ngày 31.3.1966: Sau khi nhận được văn bản của Tổng bộ Văn hóa và xã hội ngày 16.11.1965 cho biết kinh phí và điều kiện vật chất để thành lập một viện ĐH là quá lớn, không thể giải quyết ngay, hẹn sẽ dự trù ngân sách năm 1969, Trưởng ban vận động đã trực tiếp đến gặp ông Đặng Văn Quang (lúc đó là trung tướng Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật ngụy) để thuyết phục ông ta. Lúc này, Đặng Văn Quang nghe tin Mỹ sắp đổ quân xuống miền Tây, sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi và địa vị của ông ta, nên cũng muốn nắm cơ hội mua chuộc lòng dân.
Ngày 6.3.1966, Ban vận động tổ chức cuộc hội nghị qui mô lớn tại Trường TH Phan Thanh Giản với hơn 300 thân hào, nhân sĩ, giáo viên, PHHS của 10 tỉnh miền Tây tham dự, cùng ký tên vào bản kiến nghị gửi ông Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó là “Chủ tịch Ủy ban Hành pháp quốc gia”, tức thủ tướng ngụy). Sự kiện được báo chí loan tin với thái độ ủng hộ nồng nhiệt, tạo ra sức ép công luận. Bản thân Nguyễn Cao Kỳ cũng đang muốn tạo uy tín để hất ông Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó là “Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo quốc gia”, tức tổng thống ngụy) nên tuy thừa hiểu ở đâu có viện ĐH là ở đó có phong trào đấu tranh của sinh viên (SV), nhưng ông ta vẫn chấp thuận nhằm tạo hậu thuẫn ở vùng đất giàu có và đông dân nhất miền Nam, rất có lợi cho việc tranh cử sắp tới.
| ...và tấm ảnh bác sĩ Lê Văn Thuấn trong quyển tập san “Giáo dục thời kỳ chống Mỹ - khu Tây |
Ngày 1.4.1966, lễ công bố sắc lệnh thành lập Viện ĐH Cần Thơ được tổ chức tại Phong Dinh, có phái đoàn 15 tỉnh miền Tây đến dự. Đây là viện ĐH thứ năm (sau các viện ĐH: Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Vạn Hạnh) và là viện ĐH duy nhất áp dụng quy chế tín chỉ ở miền Nam trước năm 1975.
Nguyên Thư ký Ban vận động bộc bạch: “Nhớ ngày khai giảng năm học đầu tiên 30.9.1966, Viện ĐH Cần Thơ chỉ có 985 SV thuộc 4 phân khoa: Khoa học, Luật khoa và khoa học xã hội, Văn khoa và Sư phạm. Vậy mà bây giờ, Trường ĐH Cần Thơ đã có hơn 45.800 SV với 1 chuyên ngành cao đẳng, 85 chuyên ngành đại học, 32 chuyên ngành cao học và 8 chuyên ngành nghiên cứu sinh. Thật là một sự phát triển đáng tự hào!”
ĐẠI HỌC ANH HÙNG
Chỉ một năm sau khi thành lập, Viện ĐH Cần Thơ đã tạo được dấu ấn đầu tiên: Nhân giống thành công giống lúa IR8 của Viện Lúa quốc tế cho năng suất tới 5 tấn/ha, phá kỷ lục về năng suất thời đó (chỉ có 3 tấn/ha), được ông Tôn Thất Trình (Bộ trưởng Bộ Canh nông) đặt tên là “Thần nông 8” vào tháng 10.1967. Cho đến bây giờ, dấu ấn “thần nông” vẫn chưa phai trong ký ức của nhiều bậc lão nông, dù “chẳng đáng là bao” so với 2 kỳ tích xuất khẩu gạo và cá da trơn mà Trường ĐH Cần Thơ đã góp phần đắc lực tạo nên sau ngày đất nước thống nhất.
Chỉ tính trong 36 năm (1975-2011), “cỗ máy cái” cung cấp chất xám ở vùng hạ lưu sông Mekong đã “cho ra lò” gần 100.000 cử nhân, kỹ sư, luật sư, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ thuộc 2 hệ chính qui, vừa làm vừa học. Và trong đội ngũ “thợ cả” lên tới gần 2.000 người, đã có 5 vị được phong hàm giáo sư (GS), đều là những tên tuổi lớn trong giới khoa học (KH): TS Võ Tòng Xuân, TS Trần Phước Đường, TS Nguyễn Thị Thu Cúc, TS Lê Quang Trí, TS Võ Thị Gương. Họ chính là “tinh chất của phù sa”, là vốn quí số một trên đất Chín rồng mà sự cống hiến cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) thật khó bề kể hết.
Với tư cách Hiệu trưởng đương nhiệm, PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn cho biết: “ĐH Cần Thơ rất tự hào có được 5 vị GS cùng 49 vị phó GS và 181 tiến sĩ, 660 thạc sĩ. Họ đều là những nhà KH hàng đầu thuộc các chuyên ngành phục vụ sản xuất nông nghiệp (SXNN) và phát triển KT-XH vùng ĐBSCL. Trong quá trình chinh phục Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, khai thác tiềm năng sông Mekong, những kết quả nghiên cứu của họ đã cung cấp nhiều giá trị học thuật được quốc tế đánh giá rất cao”.
Liên quan đến kỳ tích xuất khẩu gạo, GS.TS Võ Thị Gương ở Khoa Nông nghiệp và sinh học ứng dụng cho biết: “Bên cạnh việc đổi mới chính sách trong SXNN, vai trò của các nhà KH cũng rất quan trọng. ĐH Cần Thơ đã có sự đóng góp nổi bật trong việc chọn tạo các giống lúa mới kháng rầy, bệnh hại trên lúa, chịu được đất phèn, đất mặn; cải tạo và sử dụng đất phèn bằng biện pháp tổng hợp như thủy nông rữa phèn, chọn cây trồng thích hợp, quản lý dinh dưỡng hợp lý giúp tăng năng suất lúa lên hơn gấp đôi. Các vùng đất có vấn đề như đất bạc màu, đất mặn cũng được nghiên cứu áp dụng các biện pháp cải tạo hiệu quả. Đặc biệt trong lĩnh vực cải tạo đất phèn, các nhà KH đất của ĐH Cần Thơ được thế giới đánh giá là đội ngũ mạnh, có uy tín”.
Liên quan đến kỳ tích xuất khẩu gạo, GS.TS Võ Thị Gương ở Khoa Nông nghiệp và sinh học ứng dụng cho biết: “Bên cạnh việc đổi mới chính sách trong SXNN, vai trò của các nhà KH cũng rất quan trọng. ĐH Cần Thơ đã có sự đóng góp nổi bật trong việc chọn tạo các giống lúa mới kháng rầy, bệnh hại trên lúa, chịu được đất phèn, đất mặn; cải tạo và sử dụng đất phèn bằng biện pháp tổng hợp như thủy nông rữa phèn, chọn cây trồng thích hợp, quản lý dinh dưỡng hợp lý giúp tăng năng suất lúa lên hơn gấp đôi. Các vùng đất có vấn đề như đất bạc màu, đất mặn cũng được nghiên cứu áp dụng các biện pháp cải tạo hiệu quả. Đặc biệt trong lĩnh vực cải tạo đất phèn, các nhà KH đất của ĐH Cần Thơ được thế giới đánh giá là đội ngũ mạnh, có uy tín”.
Còn PGS.TS Nguyễn Thanh Phương – Trưởng khoa Thủy sản – thì nói về kỳ tích xuất khẩu cá da trơn như vầy: “Sinh sản nhân tạo (SSNT) cá giống là đóng góp quan trọng. Từ năm 1995–1998, thông qua đề tài nghiên cứu hợp tác với Cty Agifish và 2 tổ chức CIRAD, ORSTOM của Pháp, Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ đã SSNT cá basa và cá tra thành công. Đến năm 2000 thì kỹ thuật này đã cơ bản hoàn thiện, từng bước đưa vào sản xuất đại trà thông qua tập huấn và tư vấn kỹ thuật mà Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ là đơn vị khởi xướng. Kết quả trên không chỉ có ý nghĩa về mặt thúc đẩy SX mà còn ghi dấu ấn về thành tựu nghiên cứu trong cộng đồng KH thế giới”.
![]() |
Quan hệ hợp tác quốc tế của ĐH Cần Thơ được
Bộ GDĐT đánh giá "tốt nhất nước"
|
31.3.2011
LÊ VŨ TUẤN


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét