Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

KỲ TÍCH CÁ DA TRƠN

Trong vòng 10 năm, cá da trơn Việt Nam gia tăng sản lượng gấp 50 lần, tăng kim ngạch xuất khẩu gấp 65 lần và hiện chiếm 99,9% thị phần toàn cầu. Trên thế giới, chưa có loại sản phẩm thủy sản nào đạt tốc độ phát triển nhanh như thế. Sau gạo và hơn cả gạo, cá da trơn đã tạo ra kỳ tích trong thời kỳ đổi mới. Kỳ tích ấy đang đứng trước triển vọng thăng hoa, nâng chuỗi giá trị lên gấp đôi, gấp ba nhờ sử dụng công nghệ hiện đại biến lượng mỡ dư thừa khổng lồ thành các loại sản phẩm cao cấp. Song, phía sau đường bơi của “đế ngư” vẫn còn không ít nông dân “chết chìm” trong biển nợ và phía trước là ẩn họa từ biến đổi khí hậu rập rình. 

Bài 1: 
NHẬN DIỆN "VÙNG NƯỚC VÀNG"
Trong cuộc hành trình dài hơn 4.000 cây số từ cao nguyên Thanh – Tạng chảy ra Biển Đông, băng qua lãnh thổ của 6 nước, sông Mekong hào phóng ban phát biết bao lợi ích cho 90 triệu người thuộc hơn 100 dân tộc sống trong lưu vực, song vẫn dành riêng một món quà lớn cho vùng hạ lưu, mà giá trị của món quà ấy, mãi đến đầu thế kỷ 21, mới được giới khoa học xác tín: ĐBSCL chính là “vùng nước vàng” của hành tinh, nơi nuôi cá da trơn cho năng suất cao nhất thế giới và không đâu trên thế giới việc sinh sản nhân tạo cá giống cho hiệu quả tốt hơn.
Làng bè Châu Đốc, nơi phát triển mạnh nghề nuôi 
cá ba sa trong giai đoạn đầu. 

SẢN VẬT THẦN KỲ
GS Michael Porter, chiến lược gia số 1 thế giới về cạnh tranh, từng nhận xét rằng: Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chính là sự khác biệt dựa trên nền nông nghiệp. Có thể coi cá tra là một sự khác biệt mang tính lợi thế tối ưu, khi nhiều nước có đặc điểm khí hậu tương tự, nhưng không thể nhân giống và xuất khẩu thành công như Việt Nam.
Dưới áp lực của biến đổi khí hậu, từ nửa cuối thế kỷ 20, nhân loại được khuyến khích chuyển sang ăn cá, thay cho thịt. Sự chuyển hướng này không đơn giản vì cá có nhiều axít béo omega 3 rất cần thiết cho quá trình phát triển não bộ, dồi dào protein, vitamin, khoáng chất rất có ích cho hệ tiêu hóa, tim mạch, mà sâu xa hơn, chăn nuôi gia súc được kết luận là nguyên nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính. Tổng lượng khí thải của quá trình sản xuất thịt quy ra thán khí CO2  chiếm tỉ lệ tới 20% tổng lượng khí gây hại trên toàn cầu.
Chính vì nhu cầu ăn cá của nhân loại tăng vọt đã dẫn đến cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Cty CP xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish) với một công ty Úc mở đường bơi cho con cá ba sa vươn ra toàn cầu. Năm 1987, ông Ngô Phước Hậu – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ Agifish – là doanh nhân Việt Nam đầu tiên ký hợp đồng xuất khẩu và xây dựng quy trình chế biến cá ba sa tại Agifish dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Úc. Ông cho biết, sau đó có thêm một số nước Châu Á, Châu Âu biết tiếng tìm qua mua cá ba sa với số lượng ngày càng nhiều hơn. Tình thế lúc đó đặt ra là phải nhanh chóng sinh sản nhân tạo (SSNT) cá giống để có sản lượng lớn đáp ứng.
Thực ra, việc nghiên cứu SSNT cá tra đã được giới khoa học Việt Nam tiến hành từ năm 1978 và cá ba sa từ năm 1990. Về kỹ thuật không thành vấn đề, chỉ thiếu những con cá mang trứng. Đầu năm 1995, một đoàn nghiên cứu hỗn hợp gồm Agifish, Viện CIRAD (Pháp) và Trường ĐH Cần Thơ đã theo chân đàn cá ba sa ngược dòng Mekong hàng ngàn cây số lên tới tận thác Khone của Lào đẻ trứng. Kết quả: Năm 1996 Trường ĐH Cần Thơ thực hiện SSNT cá basa thành công.
Khi nền ẩm thực thế giới bắt đầu ưa chuộng fillet cá ba sa, nhu cầu xuất khẩu tiếp tục tăng vọt, mô hình nuôi cá ba sa bằng nhà bè không thể đáp ứng. Các nhà nhập khẩu nước ngoài đề nghị Việt Nam tìm con cá khác thay thế, cuối cùng thống nhất chọn con cá tra. Cá tra trứng nhiều, dễ nuôi hơn cá ba sa, có thể nuôi trong ao hầm rộng rãi hơn nhà bè rất nhiều, thời gian sinh trưởng lại chỉ bằng phân nửa cá ba sa. Chính những lợi thế đó đã khiến con cá tra phát triển với tốc độ vũ bão, trở thành sản vật thần kỳ của VN trên bữa ăn toàn cầu.
Điều độc đáo là việc SSNT cá ba sa, cá tra hầu như chỉ thực hiện được ở ĐBSCL, mọi cuộc thử nghiệm bên ngoài “vùng nước vàng” đều không cho kết quả khả quan. Th.S Nguyễn Phước Tuyên – Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và thông tin, Sở NNPTNT tỉnh Đồng Tháp – phân tích: “Khi nhiệt độ dưới 25 độ C, cá tra chậm lớn và bỏ ăn. Mỹ, Trung Quốc nuôi cá nheo phải mất 2 năm mới đủ lớn, còn VN nuôi cá tra chỉ cần 6 tháng. Những nước ngang vĩ độ như Philipiness, Thái Lan có điều kiện thời tiết giống y như mình, hiện nay cũng bắt đầu mày mò. Chuyện SSNT họ đã làm được rồi, nhưng nuôi ao hầm, nuôi đăng quầng thì chưa đủ điều kiện để làm. Philipiness không có sông lớn như Mekong. Thái Lan thì có nhánh sông Mekong chảy qua, nhưng phù sa với bãi bồi không dồi dào bằng mình. Rõ ràng mình có lợi thế về thiên nhiên”.
Nuôi cá tra ở ĐBSCL cho năng suất cao nhất thế giới

CHỦ NHÂN ĐÍCH THỰC
Lợi thế ấy, thực ra đã được những chủ nhân đích thực của hạ lưu sông Mekong phát hiện từ lâu. Câu châm ngôn hướng nghiệp “Muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt” có thể đã có từ thời Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh lãnh mệnh vua về Châu Đốc đặt định cương vực, khai mở nghề nghiệp cho lưu dân hồi cuối thế kỷ 17. Và lớp người Việt tiền phong vào phương nam mở cõi đã sớm chọn lựa con cá tra làm vật nuôi gia đình, vừa giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, vừa tạo nguồn thực phẩm dự trữ giá rẻ. Ngay cả mô hình nuôi cá bè du nhập từ Biển Hồ do một số Việt kiều Campuchia hồi hương mang về cũng được họ liên tục cải tiến, bổ sung thành nghề nuôi hoàn chỉnh. Chính đây là cơ sở xã hội sâu sắc và vững chắc khiến hạ lưu sông Mekong có sẳn lực lượng lao động nghề cá thiện nghệ, thừa sức đáp ứng bất cứ nhu cầu nào của thị trường xuất khẩu.
Ở đây, không thể không nhấn mạnh vai trò hỗ trợ đắc lực của giới khoa học, song theo Th.S Nguyễn Phước Tuyên, so với kỳ tích xuất gạo, kỳ tích xuất khẩu cá da trơn đã có sự khác biệt rõ rệt giữa công tác khuyến nông và khuyến ngư: “Người nuôi tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật rất chủ động, rất nhanh. Không chờ Nhà nước tổ chức tập huấn, họ mời chuyên gia xuống tận nhà làm dịch vụ, ký hợp đồng ăn chia đàng hoàng. Trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực, nông dân không thể giàu, còn nuôi cá thì khác. Xuất khẩu 1 tấn gạo chỉ 400 USD, tức 1 ký gạo 0,4 USD trong khi 1 ký fillet cá tra hơn 3 USD, gấp 10 lần. Giúp nông dân nuôi cá tra năng suất cao, 1ha tới 3-4 trăm tấn, coi như đứng đầu thế giới, rồi tạo ra cá tra thịt trắng, an toàn, không bị nhiễm kháng sinh, không có dư lượng hóa chất. Cái này phải nói là một kỳ tích”.
Tết Tân Mão vừa rồi, ông Đinh Văn Căn (Ba Căn) - người nuôi cá tra nhiều nhất thị xã Hồng Ngự (Đồng Tháp) - bỏ ra hơn 10 tỉ đồng xây ngôi nhà “5 tấm” cao nhất chợ để đón rước ông bà và sắm luôn chiếc xe hơi đời mới chở cả nhà du xuân. Xuất thân từ dòng họ nuôi cá truyền thống ở cù lao Long Khánh, bí quyết thành công của người nông dân 54 tuổi, chưa qua khỏi lớp 3 trường làng này là luôn luôn chung thủy với nghề: “Tôi tôn trọng nghề cá từ đó tới giờ. Ai nuôi lỗ nghỉ, riêng tôi thì không nghỉ. Như năm 2008 tanh bành hết trơn, lỗ tới 24 tỉ. Lỗ tiền nhà, chớ tiền vay giờ chắc banh xác. Năm 2009 lấy lại, nhưng không nhiều. Năm 2010 mới lấy đủ vốn. Tới Tết Tân Mão, lời cỡ 20 tỉ được. Tôi hổng dám nói là thành công, Hồng Ngự này nhiều người thành công lắm, nhưng mà nói về qui mô thì ở đây tôi nuôi nhiều hơn hết”.

Ông Ba Căn có 4 người con, tất cả đều theo nghề của cha, tổng cộng quỹ đất nuôi cá lên tới 50ha, vừa nuôi cá giống, vừa nuôi cá thịt. Cá tra nguyên liệu của Ba Căn nhiều đến nỗi không nhà máy chế biến nào ở ĐBSCL tiêu thụ hết một mình. Ông luôn là khách hàng lớn được nhiều công ty tên tuổi săn đón: “Hồi xưa, lúc còn nuôi bè, tôi có làm ăn với Agifish. Sau này cá nhiều, Agifish bắt hổng hết, mới quay qua Vĩnh Hoàn. Rồi bán cho Hùng Cá nữa. Bây giờ thì cùng IDI ký hợp đồng bao tiêu, cung cấp đều đều mỗi tháng 2-3 ngàn tấn. Việt An tôi bán cũng nhiều, hơn 2 ngàn tấn rồi. Nội dung hợp đồng với IDI là cá của tôi ổng hổng bỏ; nếu ổng lấy hổng hết thì tôi có quyền bán ra bên ngoài, nhưng phải bàn bạc nội bộ đàng hoàng. Hai Chung gặp tôi khoái lắm. Mình rộng rãi, dứt dạt. Cá mình đẹp, định mức cũng tốt, thịt trắng. Hai bên ăn nói lịch sự, uy tín với nhau”.
“Hai Chung”, tức ông Lê Văn Chung – Phó Tổng GĐ Công ty IDI – nói về khách hàng lớn của mình như vầy: “Anh Ba Căn vừa xây dựng vùng nuôi theo tiêu chuẩn Global GAP dưới sự hướng dẫn của công ty. Chỉ cần một vài khách hàng lớn như anh, IDI không phải lo thiếu cá tra nguyên liệu khi nâng công suất lên gấp đôi trong năm 2011 này”.

Bài 2: 
PHÍA SAU ĐƯỜNG BƠI CỦA “ĐẾ NGƯ”   
Sau hơn 2 thập niên xuất khẩu cá da trơn, nếu lấy thời điểm Công ty Agifish xuất khẩu lô hàng đầu tiên sang Úc năm 1987 làm mốc, không ai thống kê trên “vùng nước vàng” của hành tinh đã có thêm bao nhiêu tỉ phú, chỉ biết rằng sức hấp dẫn của siêu lợi nhuận trong giai đoạn phát triển cực thịnh 2003-2007 đã dấy lên phong trào “nhà nhà nuôi cá, người người nuôi cá”, dẫn đến cuộc khủng hoảng thừa năm 2008 khiến Chính phủ Việt Nam phải chi ra hàng ngàn tỉ đồng để cứu lấy nghề nuôi. Nhưng cho đến bây giờ, phía sau đường bơi của “đế ngư”, vẫn còn không ít nông dân “chết chìm”trong biển nợ. 
Cho cá ăn tại trang trại của ông Út Anh trên "cù lao tỉ phú".

“ĐỒNG SANH, CỘNG TỬ”
Theo sự giới thiệu của Phó Tổng GĐ Công ty IDI là anh Hai Chung, sau Tết Tân Mão 2011, tôi quyết định quay trở lại “cù lao tỉ phú” (phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, TP.Cần Thơ), biểu tượng nổi bật nhất về sự thịnh vượng của nghề nuôi cá tra, với nhiều “Hai Lúa” sau một đêm trở nên giàu có, xách giỏ đệm đựng bạc tỉ ra phố thị sắm xe hơi đời mới, mua canô hạng sang. Mục đích của chuyến đi là tìm thăm ông Chương Văn Khanh (Út Anh), một cựu tỉ phú từng bị vét sạch vốn trong cuộc khủng hoảng năm 2008, nhưng bây giờ đã tìm được lối ra.
Trang trại của ông Út Anh nằm ở cuối cù lao, thuộc khu vực Bà Giá, là nơi nuôi cá tra cho năng suất cao nhất phường Tân Lộc. Trước cuộc khủng hoảng, những vị trí “đắc địa” như vậy được giới cò đất sẳn sàng trả tới 3 tỉ đồng/ha, cao hơn bình thường gấp 3-4 lần, nhưng sau đó thì, theo lời Phó Chủ tịch UBND phường Phạm Văn My, “hơn 30% hộ nuôi treo ao, rao bán ao với giá rẻ mạt mà chẳng ai dòm ngó”.
“Năm 2008, tôi cũng lỗ nặng, cỡ 4-5 tỉ đồng” – ông Út Anh mở đầu câu chuyện. “Giữa lúc đang treo ao thì tôi được Công ty IDI động viên, nhất là anh Hai Chung. Ảnh nói cái chỗ này là chỗ trời cho để mình nuôi cá. Từ dưới Ô Môn lên tới Vàm Cống, chỉ ở đây là nuôi cá đạt nhất. Cá vừa đẹp, vừa có năng suất. Bữa đó, tôi được mời lên Công ty IDI dự hội thảo “4 nhà” mở ra con đường sống. Ngân hàng đồng ý cho vay một số tiền để IDI mua thức ăn Con cò, rồi giao lại cho hộ nuôi. Cá nuôi công ty thu mua với giá thỏa thuận”.
Ông Út Anh xem điều khoản "đồng sanh, cộng tử" 
trong hợp đồng bao tiêu.

Cái “giá thỏa thuận” mà cựu tỉ phú vừa nêu được thể hiện trong hợp đồng bao tiêu như vầy: Giá thu mua là giá thành sản phẩm cộng thêm lợi nhuận người nuôi được hưởng là 2.000 đồng/ký. Nếu giá thị trường cao hơn, người nuôi chia 40% phần chênh lệch cho công ty. Ngược lại, giá thị trường thấp hơn, công ty bù phần chênh lệch cho người nuôi 40%.
“Tôi nuôi cá lâu năm, từng hợp tác với nhiều công ty, nhưng chưa thấy công ty nào đưa ra cái điều khoản “đồng sanh, cộng tử” giống như IDI” – ông Út Anh bình luận. “Vậy là tôi đứng ra làm. Tôi là người đứng ra làm đầu tiên ở cù lao Tân Lộc này, kéo theo hàng chục hộ. Từ khi IDI bỏ vốn đầu tư cho hộ nuôi, tôi chưa hề thấy ai bị thua lỗ hết. Có lời, mà lời ít, lời nhiều thôi. Nuôi 100 tấn có thể lời 4-5 chục triệu. Tết rồi, tôi lời cỡ 3-4 tỉ được”.
Như vậy là ông Út Anh đã lại trở thành tỉ phú ở “cù lao tỉ phú”, thuộc về số ít hộ nuôi được ngân hàng và doanh nghiệp chế biến “quăng phao” giữa lúc đang “chết chìm”. Trong khi đó, theo đánh giá của cơ quan chức năng, sau cuộc khủng hoảng năm 2008, hiện còn 50% diện tích ao nuôi cá tra ở ĐBSCL bị “treo”. Đặc biệt, hầu hết doanh nghiệp chế biến trong khu vực  đều xây dựng cho mình vùng nuôi riêng theo tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm 70% nhu cầu cá tra nguyên liệu. 
Một trật tự mới đang hình thành, trong đó không có chỗ đứng cho nông dân không đủ vốn và không được ký hợp đồng bao tiêu. Xem ra, cũng giống như hạt gạo, đến lượt con cá da trơn bất lực, không thể giúp những người nông dân “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” để sản xuất ra nó vươn lên, thoát khỏi đói nghèo.   
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Nhìn lại cuộc khủng hoảng cá tra năm 2008, ông Phan Văn Danh - Chủ tịch Hiệp hội Người nuôi và chế biến thủy sản tỉnh An Giang – thẳng thắn chỉ ra “khoảng trống quản lý”: “Sự phát triển lúc đó quá nóng, theo kiểu mạnh ai nấy làm. Cả các tỉnh ở vùng nước mặn cũng nhảy vô làm. Nhà máy chế biến mọc lên như nấm. Nhiều địa phương coi đây là giải pháp tăng trưởng GDP”.
Ông Thái An Lai.


Ông Thái An Lai – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản tỉnh Đồng Tháp – chia sẻ quan điểm này, nhưng trên một khía cạnh khác: “Rõ ràng con cá tra của mình mạnh ai nấy làm. Trước khi đi dự hội chợ quốc tế, VASEP cũng có họp, cũng đưa ra giá sàn, nhưng ra ngoài đó thì tuy chào bán công khai trên mức giá sàn, nhưng chào xong, quay ra ngoài làm khác. Một khi đã ký hợp đồng giá thấp rồi, muốn có lời chỉ còn đường ép giá nông dân thôi, rồi giảm chất lượng sản phẩm. Cái cơ bản là phải quản lý cho được chất lượng sản phẩm, quản lý cho được giá sàn, đặc biệt có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm”.
Th.S Nguyễn Phước Tuyên – Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và thông tin, Sở NNPTNT tỉnh Đồng Tháp – bổ sung thêm: “Thời gian qua, do chúng ta chưa xử lý nghiêm nên cuối cùng nông dân  lãnh đủ. Ở bên Mỹ, họ công bố đàng hoàng: 1 ký cá nheo, giá thu mua tại ao là 7,8 USD, trong đó họ tính nông dân lãi từ 1,8-2 USD. Nhà máy nào mua dưới 7,8 USD thì họ đóng cửa nhà máy đó. Năm ngoái, Mỹ đóng cửa tới 7 nhà máy. Còn ở VN, lúc cá tra xuống giá, nhà nước có đổ tiền ra, nhưng mà tiền đó lại nằm trong tay nhà máy, hổng tới nông dân. Vấn đề là làm sao để nông dân được thụ hưởng một cách công bằng. Xu hướng chung hiện nay là nhà máy ép giá nông dân; nông dân bán ao hầm cho nhà máy; từ những người làm chủ miếng đất, nông dân trở thành người làm thuê, nuôi cá gia công cho nhà máy”.
Th.S Nguyễn Phước Tuyên.

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là sự xung đột lợi ích giữa các khâu trong qui trình sản xuất cá da trơn ở Việt Nam vẫn chưa tìm được những giải pháp khả thi để xóa bỏ triệt để. Theo ý kiến của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học ở các tỉnh, thành ĐBSCL, đáng lý ra phải tách bạch các đối tượng có xung đột lợi ích, rồi thành lập Hiệp hội người nuôi, Hiệp hội sản xuất giống, thức ăn, Hiệp hội chế biến, xuất khẩu, tạo thành thế tam giác để 3 bên thương thảo giá cả với nhau sao cho các bên đều được lợi. Đàng này ở Việt Nam chỉ có mỗi VASEP, tuy trên danh nghĩa là Hiệp hội chế biến, xuất khẩu, nhưng lại  “quản” luôn Hiệp hội sản xuất thức ăn mới được thành lập, còn người nuôi vẫn chỉ là một đám đông khổng lồ, nhưng rời rạc. Ở cấp tỉnh, thành phố thì các Hiệp hội thủy sản đang đi ngược nguyên tắc “đối trọng để cân bằng lợi ích” khi vẫn tìm mọi cách liên kết tất cả các khâu, dù lãnh đạo của hiệp hội nào cũng nhìn thấy và thừa nhận công khai một thực tế hiển nhiên: Người nuôi luôn ở thế bị chèn ép!
Định hướng của ngành thủy sản Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 là chuyển từ “phát triển” sang “phát triển bền vững”. Và để phát triển bền vững, một trong những động thái đáng chú ý của Bộ NNPTNT là giao nhiệm vụ cho VASEP qui định giá sàn, đảm bảo cho người nuôi cá tra có lãi. Xoay quanh qui định này, theo ông Thái An Lai, có 2 câu hỏi lớn vẫn còn treo lơ lững: Doanh nghiệp chế biến vi phạm qui định về giá sàn, liệu có bị chính phủ đóng cửa hay không? Và lấy gì đảm bảo sự công bẳng khi chưa có tổ chức đại diện cho bên nuôi?
Tuy nhiên, qui định giá sàn chỉ là một trong những giải pháp thuộc về chiến thuật. Còn tư duy trên tầm nhìn chiến lược thì việc bỏ rơi nông dân ở phía sau đường bơi của con cá da trơn chẳng những đi ngược lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà còn vi phạm tiêu chuẩn quốc tế về an sinh xã hội. Th.S Nguyễn Phước Tuyên cho rằng: “Không thể để nông dân tự bơi được nữa, mà phải đào tạo họ một cách bài bản để nâng cao trình độ sản xuất. Rồi hỗ trợ vốn liếng kịp thời và để tránh cho họ khỏi bị phá sản, chính sách bảo hiểm trong sản xuất nông nghiệp cần tham gia vào. Người nuôi tồn tại thì nhà máy mới có thể tồn tại, không thể chấp nhận mối quan hệ mang tính chèn ép như hiện nay. Cái mâu thuẫn này là lớn nhất, cần được tháo gỡ một cách triệt để”.
Bên trong là vậy. Còn bên ngoài thì cá da trơn Việt Nam liên tục vấp phải các rào cản kỹ thuật trên thị trường tiêu thụ: Mỹ duy trì đánh thuế chống bán phá giá, Brazil tăng thuế cá tra nhập khẩu… Và gây sốc nhiều nhất vẫn là vụ Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) đưa cá tra Việt Nam vào danh sách đỏ trong Cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng thủy sản 2010 - 2011 tại 6 nước Châu Âu là Bỉ, Đức, Áo, Thụy Sĩ, Na Uy, Đan Mạch. Song, đó lại là một câu chuyện khác…

Bài 3: 
THOÁT KHỎI “VÒNG KIM CÔ”
Khi nghề nuôi cá da trơn phát triển cực thịnh, vùng hạ lưu sông Mekong gánh chịu mỗi năm khoảng 500 triệu mét khối chất thải do hoạt động nuôi trồng thủy sản. Đó là chưa kể lượng chất thải không nhỏ từ các nhà máy chế biến hầu hết đều được xây dựng ven sông Tiền, sông Hậu. Tuy nhiên, việc áp dụng bắt buộc các tiêu chuẩn quốc tế trên thị trường xuất khẩu (CoC, SQF, Global GAP…) đã tạo sự chuyển biến căn bản cả trong khâu nuôi lẫn khâu chế biến ở Việt Nam. Điều đặc biệt là đã xuất hiện cuộc đua công nghệ giữa các doanh nghiệp chế biến ĐBSCL nhằm xử lý lượng phụ phẩm cá da trơn khổng lồ, vừa tránh gây ô nhiễm môi trường, vừa tạo ra giá trị gia tăng.
Ông Lê Thanh Thuấn – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ
Tập đoàn Sao Mai - trong phòng thí nghiệm của
Tập đoàn Desmet Balesstra tại Vương quốc Bỉ
CUỘC QUẬT KHỞI MỚI
Ngày 22.12.2010, đúng vào thời điểm vụ WWF đưa cá tra Việt Nam vào danh sách đỏ làm sụt sôi dư luận khắp trong, ngoài nước, trên vùng hạ lưu sông Mekong diễn ra lễ ký kết hợp đồng trị giá 15 triệu USD giữa Tập đoàn Sao Mai (An Giang) với Tập đoàn Desmet Balesstra (Vương quốc Bỉ) nhập khẩu công nghệ, thiết bị cho nhà máy tinh luyện dầu cá đặt tại Cụm công nghiệp Vàm Cống (xã Bình Thành, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). 
Tập đoàn Sao Mai đã bỏ ra hơn 4 năm đi khắp thế giới tìm kiếm công nghệ hiện đại và chọn Tập đoàn Desmet Balesstra để đặt hàng nghiên cứu độc quyền. Bởi vậy, đây là nhà máy đầu tiên ở VN cũng như trên thế giới có khả năng biến mỡ cá da trơn thành các loại sản phẩm dinh dưỡng cao cấp, đưa vào bếp ăn của mọi nhà, gồm: Dầu ăn, dầu trộn rau cải, dầu shortening (dùng trong công nghiệp chế biến mì ăn liền), bơ magarine, bột nhào puff pastry (dùng trong công nghiệp thực phẩm cao cấp như làm bánh lớp crossaint, bánh pate chaud…), dầu cá viên Omega 3 (thuộc lĩnh vực dược phẩm)… 
Với công suất chế biến 100 tấn nguyên liệu/ngày (và sẽ tăng lên gấp đôi trong năm thứ 3), nhà máy trực thuộc Công ty IDI – thành viên của Tập đoàn Sao Mai - sẽ chính thức hoạt động vào quí I.2012, cho phép thu lợi nhuận từ 180- 200 tỉ đồng/năm và tăng dần trong những năm tiếp theo. Sự kiện gây liên tưởng đến một cuộc quật khởi mới của doanh nhân Việt Nam nhằm thoát khỏi “vòng kim cô” trên thị trường xuất khẩu fillet mà họ đã nhận thức rất rõ “xuất khẩu fillet, Việt Nam luôn luôn bị ép giá”, mở ra thị trường mới, nâng chuỗi giá trị con cá tra lên gấp đôi, gấp ba.  
Trên một hướng đi khác, Công ty CP Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp) cũng tổ chức ra mắt Dự án sản xuất thực nghiệm dầu sinh học (biodiesel) từ mỡ cá da trơn dùng trong ngành giao thông vận tải, sử dụng công nghệ, thiết bị của Công ty Success Nexus (Malaysia). Dự kiến chính thức hoạt động vào cuối năm 2011 tại Cụm công nghiệp Thanh Bình, nhà máy dầu sinh học của Công ty CP Vĩnh Hoàn cho phép thu lợi nhuận 1 triệu USD/năm.
Cả 2 dự án đi tiên phong đều sử dụng công nghệ hiện đại xử lý lượng phụ phẩm khổng lồ không dưới 300.000 tấn/năm, tạo ra giá trị gia tăng thậm chí còn cao hơn kim ngạch xuất khẩu fillet. Ông Lê Thanh Thuấn – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ Tập đoàn Sao Mai – phân tích: “Nhiều năm qua, không ai dám nghĩ dầu cá mà đem đi nấu, đem vào bếp của mỗi nhà, bởi vì trữ lượng dầu cá trên hành tinh không có nhiều như thế. Nhưng gần đây thì con cá tra của chúng ta bùng nổ về sản lượng và nó để lại một lượng mỡ rất lớn, nhưng chúng ta vẫn còn đang bán ra nước ngoài với giá rẻ mạt. Nhà máy do Sao Mai đầu tư trước tiên là đưa lượng mỡ cá rất lớn này vào bếp của mọi nhà, giúp cải thiện một phần sức khỏe cho nhân dân Việt Nam cũng như cho nhân dân toàn cầu. Một năm, trong tương lai, chúng ta có thể xuất khẩu 1 tỉ USD dầu cá ra nước ngoài. Hiện tại, chúng ta cũng đang thất thu cả gần 1 tỉ USD để nhập khẩu dầu cọ phục vụ đời sống hằng ngày của nhân dân. Khi mỡ cá tra thể hiện được giá trị thực của nó thì người nuôi có nhiều cơ may để mà nâng giá”.
Nghề nuôi cá da trơn đã phát triển hơn 2 thập niên. Theo VASEP, sự thịnh vượng chỉ bắt đầu từ năm 2003 đến nửa đầu năm 2008. Và bây giờ là thời kỳ bùng nổ, không phải về sản lượng, về fillet, mà là cả chuỗi giá trị nói chung. Chỉ riêng việc thay thế dầu cọ nhập khẩu bằng dầu cá sản xuất trong nước trị giá hàng tỉ USD mỗi năm như ông Lê Thanh Thuấn ao ước đã là sự đóng góp hết sức đáng kể.  
Trên Báo Lao Động Xuân Tân Mão 2011, GS.TS Võ Tòng Xuân từng thố lộ rằng, ấn tượng sâu sắc nhất trong cuộc đời khoa học của ông là buổi gặp gỡ Thủ tướng Tunku Abdul Rahman của Malaysia vào tháng 6.1968. Lúc đó, ông Tunku nói rằng, 20 năm nữa, Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu dầu cọ, vì đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hằng ngày của người nào muốn giữ cho chất cholesterol trong máu không tăng.
GS.TS Võ Tòng Xuân viết tiếp: “Tố chất “đồng bộ” trong thực hiện kế hoạch phát triển nông nghiệp, công nghiệp và thương mại dầu cọ đã bảo đảm ngôi vị quốc gia xuất khẩu dầu cọ số 1 thế giới từ năm 1988, đúng như đường hướng vạch ra 20 năm trước của vị lãnh tụ chiến lược tài giỏi của Malaysia”.
Giờ đây, với sản phẩm dầu cá được tinh luyện từ mỡ cá tra, cá basa, Việt Nam có quyền nghĩ đến việc xây dựng một chiến lược phát triển tầm cỡ như Malaysia từng làm đối với sản phẩm dầu cọ. Chiến lược ấy chẳng những phải đồng bộ, không để nông dân đứng bên ngoài, mà còn phải đủ sức ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thay đổi dòng chảy sông Mekong do tác động của con người trên thượng nguồn, bởi đây là ẩn họa rập rình… xóa sổ “vùng nước vàng” của hành tinh.
Bà Trương Lệ Khanh – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ 
Công ty CP Vĩnh Hoàn (bìa phải) - ký biên bản ghi nhớ 
với ông Jeny Phung - GĐ điều hành 
Công ty Success Nexus (Malaysia).
KỊCH BẢN NÀO CHO CÁ DA TRƠN?
Suy cho cùng biến đổi khí hậu là cái “vòng kim cô” khổng lồ luôn đeo bám, cản phá, hạn chế sự phát triển thần kỳ của con cá da trơn Việt Nam trong tương lai. Nếu như nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng thừa năm 2008 là tình trạng phát triển nghề nuôi tự phát, không tuân thủ qui hoạch thì bây giờ, quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã được Bộ NNPTNT phê duyệt ngay cuối năm đó đang gây ra nỗi lo “quá đà”.
Theo quy hoạch này, vùng nuôi cá tra thương phẩm được mở rộng tới 9 tỉnh, thành phố: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh. Trong khi đó, theo giới khoa học, biến đổi khí hậu đã có tác động rõ rệt đến “vùng nước vàng”: 7 năm liên tiếp bị hạn. Từ 2003-2010, lũ dưới mức trung bình. Bão tố, giông lốc xuất hiện ngày càng nhiều. Nước mặn xâm nhập đất liền ngày càng sâu. Lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về hạ lưu giảm từ 150 triệu tấn (2000) xuống còn 90 triệu tấn (2010). Và nóng bỏng nhất là dự án xây dựng đập thủy điện Xayaburi tại Lào, nếu được thông qua sẽ hủy hoại “vựa lúa”, “vựa cá” ĐBSCL cũng là “vựa lúa”, “vựa cá” của thế giới. Kịch bản nào dành cho cá da trơn?
Từ địa phương đang phát triển nghề nuôi cá da trơn nhiều nhất Việt Nam, Th.S Nguyễn Phước Tuyên cho hay: “Trong biến đổi khí hậu thì nước biển tràn vô những tỉnh ven biển như Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… làm mất khoảng 45% diện tích trồng lúa. Đồng Tháp may mắn ở trong ruột, gần như không bị ảnh hưởng, nhưng bị ảnh hưởng gián tiếp bởi mấy cái đập thủy điện trên sông Mekong. Lũ sẽ không lớn và về rất muộn. Thay vì “tháng bảy nước nhảy khỏi bờ”, phải tới tháng 9, lùi lại từ 1 tới 2 tháng. Rồi nước rút cũng chậm hơn. Hồi trước, lưu lượng sông Tiền lớn hơn sông Hậu, bây giờ thì sông Hậu lớn hơn sông Tiền. Mình đối phó bằng cách điều chỉnh thời vụ cho hợp lý. Riêng về nuôi cá, có lẽ sẽ tiến hành phân vùng. Những vùng nhiễm mặn sẽ chọn đối tượng cá nước lợ và cá nước mặn. Riêng con cá tra, cá ba sa sẽ vẫn ở cái nôi Đồng Tháp, An Giang. Còn Cần Thơ, Vĩnh Long sẽ là vùng nước lợ”.
Theo kế hoạch, diện tích nuôi cá tra vùng ĐBSCL năm 2011 sẽ tăng lên 6.300ha, cho sản lượng từ 1,2-1,3 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 1,45-1,55 tỉ USD. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến phản biện. Đáng chú ý nhất là ý kiến của TS Võ Hùng Dũng - Giám đốc VCCI Cần Thơ: Nhà nước cần có những chính sách bảo vệ những nền tảng cơ bản của ngành cá tra, trong đó ưu tiên bảo vệ vùng nuôi và người nuôi nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu tốt. Doanh nghiệp chế biến cần tăng giá xuất khẩu thông qua việc quản lý giá sàn.  
Dòng Mekong vẫn cuồn cuộn phù sa. “Vùng nước vàng” vẫn là cái nôi lý tưởng cung cấp sản phẩm cá da trơn cho bữa ăn toàn cầu. Và những chủ nhân đích thực của hạ lưu Mekong, những con người đã làm nên kỳ tích, đang tiếp tục dấy lên cuộc quật khởi mới…

10.3.2011
LÊ VŨ TUẤN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét