Một bà mẹ từ thị trấn Cái Tàu Hạ tất tả chạy lên tỉnh lỵ Đồng Tháp kêu cứu: Bà vừa “ gả nhầm” đứa con gái 23 tuổi cho...“thằng rể Đài Loan lưu manh”, đề nghị Công an (CA) tỉnh hãy ra tay giải thoát(!) . Đây chỉ là... “ chuyện nhỏ” giữa 1001 chuyện “ hậu” lấy chồng Đài Loan (ĐL) - một hiện tượng xã hội bất thường - “bùng nổ” ở làng quê sông nước, lôi cuốn hàng ngàn thôn nữ miền Nam lao vào những cuộc hôn phối sặc mùi đô-la và lắm điều trái khoáy.
Thấy bên kia đường một chiếc xe TOYOTA 12 chỗ ngồi bóng lộn đón dâu về TP.Hồ Chí Minh, mấy bà mẹ quê bán hàng xén trong chợ Đất Sét nói...giễu: “Trời ơi, ĐL nó qua đây cưới riết hết con gái xứ này. Mai mốt chắc tới phiên... tụi mình” (!). Nói xong, mấy bà cùng nhau cười. Cười xong, mắt bà nào cũng... ướt.
Ngày 20.7.1996, bà Nguyễn thị O. ở ấp Phú Mỹ Hiệp, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, gả đứa con đầu tiên 18 tuổi cho một người ĐL 31 tuổi. Bên trai đi “ tiền đồng” 3.000 đô. Bên gái “ đãi họ” 500 đô, thù lao mai mối 500 đô nữa. Vị chi còn... lãi 2.000 đô. Qua năm 1997, bà gả tiếp đứa con thứ hai 23 tuổi cho một người ĐL ...45 tuổi. Lần này, xét về mặt tiền bạc, cũng... “êm” như lần trước. Nhưng chỉ sau đám cưới vài tuần thì sóng gió nổi lên. Bữa nọ bà cất công lên TP.Hồ Chí Minh thăm con - đang sống với chồng trong một khách sạn lớn. Ai ngờ “ thằng rể lưu manh” trở mặt, không chịu cho bà vào. Còn đứa con rứt ruột đẻ ra của bà, nó đứng trên lầu trông thấy mẹ mà cũng… không chịu xuống(?). Sợ đã “ gởi nhầm trứng cho ác” , bà phải đi cầu cứu... CA!
Trong khi bà Nguyễn thị O. đang khóc thì hàng trăm bà mẹ khác ở Đồng Tháp lại... hí hửng cười, coi chuyện gả con cho ĐL là một cơ may... “xóa đói, giảm nghèo” hiếm có(!). Trên biểu đồ thống kê của Sở tư pháp, các con số cứ luôn nhảy vọt: Năm 1993: 1 vụ; năm 1994: 7 vụ; năm 1995: 10 vụ; năm 1996: 54 vụ; năm 1997: 135 vụ và chỉ 3 tháng đầu năm 1998 đã là 64 vụ. Còn nhìn rộng ra trên toàn miền Nam, theo Văn phòng kinh tế - văn hóa (KT-VH) Đài Bắc tại TP.Hồ Chí Minh, thì tốc độ tăng cũng...“phi mã” không kém: Năm 1993: 162 vụ; năm 1994: 916 vụ; năm 1995: 1.092 vụ; năm 1996: 4.090 vụ và 10 tháng đầu năm 1997: hơn 4.000 vụ. Một nữ nhân viên Sở tư pháp kinh ngạc: “ Số người lấy chồng ĐL chiếm hơn 70% trường hợp kết hôn với người nước ngoài. Hổng lẽ đàn ông ĐL... hấp dẫn nhất thế giới?” .
Một lần, ông Chiu Chwei Ming, Trưởng phòng phỏng vấn của Văn phòng KT-VH Đài Bắc, xác nhận rằng: Đa số các chú rể ĐL đều thuộc thành phần lao động nghèo nông thôn, trình độ văn hóa thấp (bậc tiểu học) và có 10% bị dị tật. Ấy vậy mà các cô thôn nữ VN - với 90% dưới 20 tuổi và, do được chọn lựa kỹ nên thường là rất đẹp - vẫn đua nhau lấy chồng ĐL, dù đó là những người hơn cả tuổi... cha mình.
Không một ai có thể đo lường hết mức độ phẫn nộ của quần chúng. Ông Ba Đương, một cán bộ hưu trí ở xã Mỹ An Hưng B, giận dữ: “ Người ta phải dẫn con lên trển (TP.Hồ Chí Minh) đứng sắp hàng để cho nó lựa, y như là lựa cá. Tui thấy cái đó là hổng đúng rồi. Cái đó là đem bán con chớ còn gì nữa?”
Ông Mười Triệu, Trưởng ban tế tự Đình thần Tân An Trung ở gần đó, cũng nói: “ Người VN mình, mỗi khi gả con đều tìm hiểu thật kỹ. Coi sui gia bên đó tốt không, gia cảnh thế nào. Coi thằng rể có xứng đáng để con mình “ trao thân, gởi phận” . Coi tụi nó có “ăn đời, ở kiếp” được không. Còn đàng này, tiếng ĐL...“chữ nhất là một” cũng hổng biết, cứ nghe thằng phiên dịch nó nói cái gì thì biết cái đó vậy thôi. Rồi thằng rể nước ngoài, biểu kêu “ba” một tiếng còn... hổng được, nói gì tới 3 cái lạy đáp tạ công ơn sinh thành dưỡng dục trong ngày hôn lễ? Cái thứ nghèo mà “ bán vợ, đợ con” , đâu xứng đáng làm...người!”
Mặc cho sự mỉa mai, dè bỉu của người đời, sau lũy tre xanh vẫn có những cảnh đời “ tréo ngoe” mà ngay cả “thời...chị Dậu” tưởng cũng không thể có.
Một người cha ở Mỹ An Hưng B dặn đứa con gái mới...14 tuổi: “Mầy đi bán vé số đầu này đầu nọ, tao cấm tiệt không được quen với thằng nào. Để đó mai mốt gả cho ĐL báo hiếu mẹ cha, sống còn...có nghĩa” (!).
Lại có nhà bán hết ruộng đất - là phương tiện mưu sinh duy nhất của mình – để...trang điểm cho con. Lỡ thiếu chút đỉnh thì hỏi vay hàng xóm, mai mốt lấy “ tiền đồng” trả lại mấy hồi(!).
Một bà cụ đã 80 tuổi kể lại với tôi: “ Trong xóm có con nhỏ S. cũng đẹp gái lắm. Ba má nó hỏi vay người ta 500.000 đồng để đưa nó lên thành phố. Ai dè hổng kết quả gì hết trơn. Giờ nó phải đi mần mướn trả nợ” . Kể xong, bà lại thở dài. Có lẽ ở cái tuổi “ gần đất, xa trời” , chuyện nhân gian tưởng không còn gì phải lạ, bà vẫn không sao...quen với cái kiểu “ éo le” của lớp con cháu bây giờ.
“CHIM KÊU, VƯỢN HÚ”
“Má ơi đừng gả con xa - Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu” . Câu ca dao ấy đã có hàng trăm năm rồi, từ cái thời tư tưởng phong kiến “ môn đăng, hộ đối” còn đè nặng lên thân phận của người phụ nữ. Còn bây giờ thì phụ nữ đã được giải phóng: Tự do yêu đương, tự nguyện kết hôn (kể cả kết hôn với người nước ngoài) trở thành các quyền được luật pháp bảo vệ. Dù lấy chồng xa hơn trước gấp vạn lần, các cô gái ngày nay không còn phải… van nài cha mẹ nữa, mà “ tự nguyện kết hôn” , và trong đó không loại trừ “ tự nguyện...bán mình” .
Tôi được các đồng nghiệp ở Đài phát thanh - truyền hình (PT-TH) chiếu cho xem một đoạn phim về cô Lạc thị Th., một cô gái người Việt gốc Hoa 24 tuổi ở phường 6, quận 11, TP.Hồ Chí Minh.
Sau 2 tháng theo chồng về sống ở ĐL, cô kể: “Chồng em tên Li Kun Lu, 40 tuổi. Ổng cưới em thông qua môi giới, đi “ tiền đồng” tốn 3.000 đô. Em vốn biết tiếng Hoa phổ thông từ nhỏ, nhưng qua bên đó người ta chỉ nói toàn tiếng Phúc Kiến nên không hiểu được nhiều. Suốt 2 tháng trời em chỉ ăn… mì gói do khẩu vị không hợp. Bên chồng lại bắt em… ăn trầu, nhưng em không chịu. Chồng em tướng lùn, tuy không có dị tật, nhưng mà…kỳ lắm. Ổng đối xử với em như một con ở, chớ không phải là vợ. Chuyện trong nhà lớn nhỏ gì cũng bắt mình làm, mà không hề cho một đồng ăn sáng. Ổng có 4 anh em, cùng ở chung một nhà. Mình không… chìu ý ổng thì dù là 1 - 2 giờ khuya cũng bị… đuổi ra đường. Bên Đài Nam ngoài trời rất lạnh. Em mặc tới 5 cái áo ấm mà vẫn còn run. Lối xóm ở bển hổng thương người VN mình đâu. Tụi em qua bển một lượt 4 người, do cùng một chỗ môi giới, nên cố nhớ số điện thoại của nhau. Nhưng ổng cấm tụi em liên lạc. Bạn em tới chơi, ổng vu cáo người ta ăn cắp, đuổi ra khỏi nhà. Tụi em muốn gọi điện thoại hay đi tắc xi lên Cao Hùng ở Đài Bắc để kêu cứu với cơ quan đại diện VN cũng không được, vì không có tiền. Chịu đựng riết hết nổi, tụi em viết đơn xin ly dị. Nào ngờ ly dị xong lại bị mấy ổng chơi đểu: đem giấu hết hộ chiếu và không chịu mua vé máy bay cho tụi em về. Mấy ổng nói: Mấy cô muốn về nước thì phải… ngủ với tụi tui thêm một tuần lễ. Còn không thì ra đường làm điếm để kiếm tiền mà về. Tụi em phải… chịu nhục mới về được VN” .
Chuyện của Th.vẫn… chưa là gì cả, nếu so với điều cô kể tiếp sau đây: “Chỗ em ở có một chị cũng người VN, bị thằng chồng khốn nạn bán vô nhà chứa. Ba má chị ở bên nước hay được, bán hết nhà cửa, ruộng vườn gởi tiền qua chuộc, nhưng mà vẫn chưa đủ. Không biết bây giờ chỉ ra sao?”
GÕ CỬA LUẬT PHÁP
Xâu chuổi lại toàn bộ sự việc và soi nó ở góc độ pháp lý, thiếu tá Ngô Minh Lẫm, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự (CSHS), Công an tỉnh, cho hay: “Ở Đồng Tháp, chúng tôi đã từng bắt 2 vụ môi giới lấy chồng ĐL có ăn tiền huê hồng, nhưng sau đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh lại...thả, vì chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “mua bán phụ nữ” theo Điều 115 của Bộ luật Hình sự”. Tôi đặt vấn đề: “Khi tất cả đều “tự nguyện kết hôn”, tức là khả năng bị “cưỡng ép” sẽ khó xảy ra, nhưng lại không loại trừ khả năng bị “dụ dỗ”. Vậy “dụ dỗ” có nặng tội tương đương với “cưỡng ép”? Trưởng phòng CSHS tỉnh lắc đầu: “Chúng tôi chưa được cấp trên hướng dẫn về điểm này, dù Chỉ thị 766 đã ra đời... hơn nửa năm”(!)
Chỉ thị 766/TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17.9.1997: phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cuộc đấu tranh chống tội phạm “đưa phụ nữ và trẻ em VN ra nước ngoài trái phép”. Trong đó, việc “cưỡng ép lấy chồng nước ngoài” được chính thức coi là một thủ đoạn cần tập trung đối phó. Vốn là một tỉnh có biên giới, Đồng Tháp đã từng đối phó với tệ nạn đưa phụ nữ VN qua Campuchia bán dâm. Và ở đó, dù dùng thủ đoạn “cưỡng ép” hay “dụ dỗ” , bọn dắt mối đều bị trừng trị như nhau. Còn ở đây, đối với bọn dắt mối lấy chồng ĐL có ăn tiền huê hồng, sao luật pháp vẫn chưa định rõ tội danh?
Về mặt “pháp lý” , lực lượng CA tạm thời bị...“trói tay” , nhưng xét về các chuẩn mực đạo đức, quần chúng lại không chịu nhân nhượng. Họ sẵn sàng giúp các nhà báo “vạch mặt, chỉ tên” những kẻ săn tiền trên thân phận các cô gái quê. Theo danh sách do quần chúng cung cấp, một nhóm phóng viên của Đài PT-TH - được CA tỉnh “bật đèn xanh” - đã giả dạng kẻ dắt mối từ TP.Hồ Chí Minh xuống tìm “đồng nghiệp”. Sau 2 tháng liên tục điều tra, chị Trang Nh. - nhóm trưởng -cho tôi xem một “bảng phong thần”: Ở xã Mỹ An Hưng B có các bà: Tư Cụt, Quách Sáu, Hai Oanh, vợ chồng Út Hiêm; ở xã Mỹ An Hưng A có các bà: Năm Cầu, Kim Hạnh; ở Cái Tàu Hạ có bà Hai Hoa; ở Mỹ Đông có ả Xuân Hồng.
Ngày 3.4.1998, tại CA xã Mỹ An Hưng B, tôi được chứng kiến một vụ làm giấy CMND giả bị đem ra xét xử. Thủ phạm là bà Nguyễn thị L. ở ấp An Hòa, lấy cắp sổ hộ khẩu của cô Trần thị M., sinh năm 1976, ở lối xóm để độn ảnh con gái mình vào. Trước mặt CA, bà L. hồn nhiên nói: “Tại vì con tui sinh năm 1981, chưa đủ 18 tuổi để lấy chồng ĐL”(!).
Tại CA thị trấn Cái Tàu Hạ, tôi cũng được cho xem 2 lá đơn xin sửa năm sinh cho con (gái) để đủ 18 tuổi “xin vô làm xí nghiệp”, nhưng thực ra là muốn sớm gả con cho ĐL. Và thế là có những cô gái VN chỉ mới 15 - 16 tuổi vẫn... “lọt lưới” qua tận xứ người.
Trong 26 trường hợp kết hôn với ĐL ở Cái Tàu Hạ, có ông Trương Tấn Thạnh, khi gả đứa con gái 22 tuổi, tên là Trương Thục Anh, cho một chàng trai ĐL 33 tuổi, tên là Yu Ming, được lối xóm khen là kết hôn đúng nghĩa. Trước đám cưới, gia đình hai bên tìm hiểu nhau tới hơn 1 năm. Ông Thạnh từng cùng Thục Anh đi máy bay qua tận ĐL để gặp gỡ gia đình Yu Ming, và ngược lại. Cũng trong thời gian này, Thục Anh ráng học tiếng Hoa và Yu Ming ráng học tiếng Việt. Hôn lễ được cử hành ngay tại quê nhà, để tránh tiếng như bao nhiêu “cặp” khác.
Đồng chí Lê văn Hoàng - Trưởng CA thị trấn - nhận xét: “Từ chuyện này, tôi nghĩ: Có lẽ Luật hôn nhân và gia đình của mình cần bổ sung thêm 2 điều: Thứ nhất, cô dâu - chú rể phải biết rành ngôn ngữ của nhau. Thứ hai, chú rể phải có ít nhất 1 năm sinh sống ở VN để hiểu rõ phong tục, tập quán và gia cảnh bên vợ. Có vậy, nói “tự nguyện kết hôn” thiên hạ còn tin. Chớ đi “du lịch” có 5 - 7 bữa mà cưới được vợ thì...tin hổng nổi” .
Tháng 7.1998
LÊ VŨ TUẤN


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét