Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

NGƯỜI GÁNH ĐẤT

Quốc Khánh 2.9 năm ngoái, trên trang nhất, báo Lao Động đưa tin: Đồng Tháp - một người gánh đất mướn được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Tôi trở về vùng đất nảy sinh sự lạ, nghe thiên hạ xôn xao chuyện “ ăn khế trả vàng”. Có phải chim phượng hoàng trong cổ tích … bay trở lại giữa thời công nghiệp hóa?
"Gánh đất mướn mà được huân chương,
gánh đất mướn mà được nhà tường"
Hơn 3 năm chưa trở lại xóm vàm, về Đồng Tháp lần này, tôi rủ anh Hai Tông, Phó phòng Thương binh - Xã hội tỉnh, đi thăm người gánh đất. Anh nói ngay : “ Tưởng ai chớ chú Mười Xiệt thì tôi đi liền. Đối với ổng, tôi là người mắc nợ”. Tôi hẹn anh chiều chủ nhật cùng đi và “ chộp” luôn cái tứ “nợ” cho bài phóng sự.
Ở thị xã Cao Lãnh bây giờ, hễ nghe nhắc biệt danh “người gánh đất” là mọi người nhớ ngay tới chú Mười Xiệt ở xã Tân Thuận Tây. Bởi lẽ từ năm 1995, câu chuyện cảm động về người đàn ông đi gánh đất mướn nuôi Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Kiếm đã được Đài phát thanh - truyền hình Đồng Tháp giới thiệu trong bộ phim tài liệu cùng tên, và mới đây nhân vật chính lại được tặng thưởng Huân chương Lao động. Vâng, người “thứ dân” đầu tiên được Chủ tịch Nước tặng thưởng huân chương ở Đồng Tháp chính là chú Mười Xiệt, người mà tôi và anh Hai Tông vốn đã từng quen.
Lúc khởi hành từ thị xã Cao Lãnh, tôi cứ men theo lối cũ mà đi. Qua khỏi chợ Thông Lưu thì gặp một cây cầu. Đổ xuống hết dốc cầu thì tới nhà má Kiếm. Nhưng tới nơi mới biết má mất rồi. Dời sang nhà tình nghĩa buổi sáng, tới buổi chiều thì má qua đời, hưởng thọ 91 tuổi. Ai cũng nói,má ráng sống chờ có nhà cho chú Mười Xiệt rồi mới chịu nhắm mắt.
“Sống ở trên đời, ai mà chẳng sợ cái cảnh cô đơn trong buổi xế chiều. Má Kiếm cũng vậy. Từ năm 1947, người con gái duy nhất của má tên là Phan thị Tiềm, hoạt động trong Hội phụ nữ cứu quốc xã, bị giặc bắt đem đi mất tích. Rồi cách nay gần 20 năm, chồng má cũng qua đời. Tuổi già của má sẽ buồn biết bao nhiêu, nếu như đời không run rủi, ban cho má một đứa con nuôi tên là Mười Xiệt”.
Chú Mười Xiệt quê gốc ở xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn (TP.Hồ Chí Minh), lưu lạc về xóm vàm này vào năm 1978 và sau đó được má Kiếm nhận làm con nuôi. Lúc đó, má Kiếm chỉ là một bà mẹ nghèo cô độc, sống trong cái lò rèn hoang phế ở đầu vàm, quanh năm gói bánh tét đi bán dạo trong xóm để nuôi thân. Đời của má quá nhiều đau khổ. Từ ngày con bị mất tích đến lúc nhận được bằng Tổ quốc ghi công và số tiền tuất liệt sĩ là... 300 đồng (vào năm 1979) là...32 năm.
“Niềm hy vọng vỡ tan. Má thương con, khóc nhiều tới nổi mờ luôn đôi mắt. Chú hỏi: Má ơi, mình làm đám giỗ chị hai ngày nào? Má khóc mà hỏi lại: Trên thế gian này, có ai làm đám giỗ cho người mất tích không con? Thôi thì cứ mỗi bữa cơm nghèo, chú lại xới một chén để kiến người quá cố…”
Tôi nhìn cái nền nhà cũ trống trơ lại nhớ tới cô Thanh, con gái thứ ba của chú Mười Xiệt, là đứa con “giống mẹ nhất nhà”. Hồi đó, “chính cô Thanh đã mua cho chú và má Kiếm cái nền nhà này. Và trên cái nền của lòng hiếu thảo đó, chính quyền và nhân dân xã Tân Thuận Tây đã cất lên ngôi nhà tình nghĩa dành cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chấm dứt quãng đời đi ở đậu hàng xóm, dù rằng cô cũng phải đi... làm mướn cho người ta (…) Đã vậy mà cô Thanh còn biểu: Thôi, ba đừng có đi gánh đất mướn nữa, để con đi làm gởi tiền về nuôi ngoại, nuôi ba. Nghe con nó hiếu mà nói như vậy, làm cha ai mà chẳng thầm mừng. Nhưng nó còn trẻ người, non dạ, làm sao hiểu được lòng của chú. Chú gánh đất đây là gánh để nuôi má Kiếm, gánh tới một ngày được tự tay mình đắp lên nấm mộ cho má...”
Tự tay xây mộ cho má
Trước mắt tôi, “người gánh đất” đang lui cui xây mộ sau vườn. Không phải mộ đất, mà là mộ đá. Gặp lại tôi chú Xiệt mừng ra mặt, cứ nắm tay mà lắc lắc hoài. Còn tôi thì… sờ “cái vết chai trên vai người hiếu tử” mà hỏi: “Làm mộ má Kiếm rồi, chú còn đi gánh đất nữa không?”. Không hiểu nghĩ sao, chú lại nói: “Con Thanh á, nó về nhà rồi. Từ hồi tết tới giờ. Nó nói, về ở luôn với tui”. Thì ra cái chuyện đó - chuyện cô Thanh đi “làm mướn” ở đâu mà từ hồi làm phim, chúng tôi đã cố tình giấu kín - bây giờ chú đã biết rồi. Anh Hai Tông liền đánh lạc hướng: “Chú Mười, chú phải tự xây mộ cho má hay sao?”. “Không đâu, Uỷ ban xã mướn thợ hồ làm hết. Chỉ tại tui… nhớ má quá nên ra làm tiếp đó thôi. Vài bữa nữa sẽ bốc cốt ba (chồng của má Kiếm) về nằm chung với má. Tất cả đều do Nhà nước chi tiền”.
Chúng tôi trở vô nhà. Một cái nhà tường mới xây còn thơm nức mùi vôi, trông rộng rãi, khang trang ra phết. Ngôi nhà có trị giá 34 triệu đồng do Cảng Bến Nghé và 2 công ty khác của tỉnh Đồng Tháp tặng cho má Kiếm. Chú Mười Xiệt chỉ cho tôi xem bằng chứng nhận Huân chương Lao động hạng Ba đang được treo trang trọng trên tường, rồi lại chỉ bản photocopy giấy chứng nhận Huy chương vàng của Liên hoan phim truyền hình toàn quốc 1996 tặng cho phim tài liệu “Người gánh đất” treo ở kế bên. Hai sự kiện cách nhau gần 3 năm, cuộc đời chú Mười Xiệt đã có nhiều thay đổi. Từ đáy sâu của cảnh sống nghèo hèn, vươn lên tột đỉnh danh dự mà ít người có được. Chẳng trách hồi ở thị xã Cao Lãnh, tôi đã nghe thiên hạ đồn rùm: “Gánh đất mướn mà được thưởng huân chương! Gánh đất mướn mà được ở nhà tường! Quả là chuyện thế gian có một!”
Anh Hai Tông làm một “đúc kết vui”: “Năm 1995, ổng từng đi xe du lịch máy lạnh của Sở LĐ-TB-XH về Hóc Môn thăm quê. Năm 1997, lại đi máy bay ra thủ đô Hà Nội dự hội nghị điển hình toàn quốc và nhận bằng khen của Mặt trận Tổ quốc trung ương. Còn về nhà thì đi gánh đất toàn bằng xe Honda, Dream, xe Cup”. Tôi kinh ngạc kêu lên: “Hả? Tôi thấy trong nhà chỉ có chiếc xe đạp mới mua thôi mà…” . Chú Mười Xiệt cười cười xác nhận: “Từ hồi bộ phim được chiếu trên truyền hình tới giờ, bà con rước tui đi gánh đất toàn bằng… xe Honda không hà. Ban đầu còn ở mấy xã gần, như Hòa An, Tân Thuận Đông. Còn bây giờ, tuốt bên huyện Chợ Mới (An Giang) cũng qua rước. Người khác đi gánh đất “biệt thực” (tự túc ăn uống) được trả ba chục ngàn đồng một ngày. Còn tui, được tới bốn chục, lại cơm ngày ba bữa, cứ mười ngày đưa về thăm nhà một lần”. Tôi hỏi: “Họ có nói tại sao không chú?”. “Người gánh đất” trả lời: “Tui có hỏi thì bà con nói vầy: Có ông làm ở trong nhà, tui dễ dạy con hơn”.
Thì ra cái “đốm lửa nghĩa nhân” 14 năm ấp ủ trong một mối tình nghèo, giờ đã cháy bừng lên và tỏa sáng giữa đời theo bước chân đi gánh đất mướn của chú Mười Xiệt. Cái cách “ăn khế trả vàng” kiểu Nam Bộ này độc đáo và cảm động biết bao!
Lo liệu việc nhang khói cho má
Khi nhìn anh Hai Tông thắp một nén nhang trước bàn thờ má Kiếm, lần đầu tiên tôi nghĩ đến chú Mười Xiệt trong tư cách của một người cha mà chợt động lòng. Đã 17 năm kể từ ngày vợ chết, chú vẫn y theo lời trối cuối cùng, ráng bảo bọc đàn con và dưỡng nuôi má Kiếm. Với má Kiếm, chú đã tròn “gánh nghĩa”, nhưng còn với đàn con, liệu đã trọn “gánh tình”?
“Ngày xưa, chú và vợ chú gặp nhau trong cảnh làm thuê ở một vựa cá biển trong chợ Trần Quốc Toản (Sài Gòn). Lúc đó là năm 1967. Chiến tranh, loạn lạc đã xô đẩy hai mảnh đời xuống tận cùng bất hạnh. Vợ chú tên là Trần thị Tung, quê gốc ở xóm vàm này, hoạt động cách mạng bị địch bắt giam 6 năm ở nhà tù Thủ Đức. Còn chú, quê gốc ở Hóc Môn, bị bắt “quân dịch” đưa ra tận miền Trung, đào ngũ trốn về. Ai cũng phải bỏ xứ mà đi để tránh sự kiềm kẹp của chính quyền ngụy Sài Gòn. Ăn ở với nhau tới 10 mặt con, ngờ đâu mới nửa đoạn đường trần, vợ chú đành lòng bỏ chú mà đi...”
Tôi hỏi: “Các con của chú hiện giờ ra sao?”. Với mọi người cha trên thế gian này, câu hỏi đó đâu có gì quá khó. Nhưng với người cha 17 năm “gà trống nuôi con” thì tôi phải chờ thật lâu... thật lâu... mới ghi được vào sổ tay những dòng thật buồn... thật buồn... Trong 10 đứa con thì có 5 đứa chết và 1 đứa “đem cho”. Trong 4 đứa còn lại, có tới 3 cô không được may mắn về chuyện gia đình. Chỉ có cô Hon, con gái thứ mười: 25 tuổi, lấy chồng ở xã Tân Thuận Tây, hiện có 2 con, vợ chồng ở chung với chú Mười Xiệt. Giống như cha vợ, chàng rể cũng đi làm mướn để kiếm sống.
Ghi xong, tôi ngồi nhìn “người gánh đất” thật lâu... thật lâu... mà không biết nói gì. Có phải cái cặp ky gánh đất của người cha sẽ không thể nào san lấp nổi những hố sâu, vực thẳm của tình đời? Có phải cái tánh “hiền như đất” của người đàn ông luôn tin “trên đời này, ai cũng có tâm đạo” sẽ không thể nào bảo bọc con mình trong hạnh phúc? 
Bằng một giọng ngập ngừng, chú Mười Xiệt tâm sự với tôi: “Con Rớt, nó đang ở đậu nhà người ta trên Châu Đốc, phụ việc mua bán. Con Tèo thì bị bên chồng bắt luôn. Nó ở bển làm ruộng, cũng cực lắm. Mới có 28 tuổi, hổng lẽ nó phải ở góa suốt đời? Nhưng mà tui lo nhất vẫn là con Thanh. Tuy nó đang bị thất nghiệp, nhưng có chú Trường làm việc ở xã thương nó... Mong sao nó được tấm chồng”.
Nghe xong, tôi thầm mừng cho cô Thanh. Có lẽ nào một đứa con hiếu thảo như cô mà phải chịu khổ hoài, chỉ vì từng đi làm… tiếp viên nhà hàng để giúp cha, giúp ngoại? Có lẽ nào lời hứa của ông Sáu Quỳ, Phó chủ tịch UBND xã Tân Thuận Tây, trong bộ phim hơn 3 năm về trước - “Chúng tôi xin chân thành cảm ơn chú Mười Xiệt... Xin hứa từ nay sẽ tạo mọi điều kiện để chú không còn phải đi gánh đất mướn nữa, vì đã xấp xỉ sáu mươi rồi” - sẽ vĩnh viễn không bao giờ thực hiện?
Còn “chú Trường” là ai? Anh Hai Tông cho biết: Đó là anh Trần Công Trường, Trưởng ban Thương binh - Xã hội của xã Tân Thuận Tây. Trong gia đình, Trường là con trai út nên ở chung với mẹ già, năm nay đã 72 tuổi. Giống như cô Thanh, Trường đã từng một lần dang dở và đang nuôi 3 đứa con riêng. Hai người đến với nhau cũng là chuyện bình thường. Nhưng còn gia đình? Nhưng còn xã hội? Có phải cuộc sống sẽ tiếp tục “trả vàng” cho những con người có tấm lòng vàng như chú Mười Xiệt? Có phải cô Thanh rồi sẽ được may cái túi ba gang để mà đựng... hạnh phúc của mình? Có phải con chim phượng hoàng trong cổ tích vẫn... bay trở lại giữa thời công nghiệp hóa?
Bất ngờ ngoài cửa bước vô hai vị khách! Một trong hai người đó chính là “chú Trường”. Trường nói với chú Mười Xiệt: “Bữa nay cháu dẫn người anh ruột thứ năm đến... xin thưa chuyện với chú. Vì mẹ cháu đã quá lớn tuổi...” Anh Hai Tông liền khều tôi đứng dậy từ giã gia đình. Vừa bước ra cửa thì thấy một chiếc xe Honda trờ tới, thắng “ kịch” ngay trước cổng. Người đàn ông trên xe kêu với từ ngoài đường: “Ông Xiệt ơi, chuẩn bị xong chưa? Đi Chợ Mới kẻo muộn!”
Không muộn đâu, bà con ơi! Chuyện “ăn khế trả vàng” ở trên đời này, có bao giờ muộn?

Tháng 3.1998 
LÊ VŨ TUẤN
(Báo Lao Động số ra ngày 30.3.1998)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét