Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

MỌC TRÊN THẢM SÁT

Ảnh tư liệu: Thảm sát tại Campuchia dưới chế độ Pol Pot.
(Ghi chép về chuyến ra nước ngoài làm phim đầu tiên)
Biên giới, ngày 24.11.1983. Đồn biên phòng chỏng chơ mấy cái chòi nhỏ, lèo tèo vài nhân mạng nằm ngồi vô trật tự, tọa lọa trên con đường ruột dê, hai bên là đồng trống, mùa nước nổi trắng xóa chân trời. Gió ào ào lạnh buốt. Tôi đưa mắt nhìn về Việt Nam lần chót. Núi Sam và cánh đồng mênh mông cùng nhau “đùm bọc” dãy nhà tranh nằm lẫn khuất trong những khóm tre thưa. Vài chiếc xuồng lơ thơ trong bóng núi, trôi trên những lớp mây trắng xóa mặt đồng. Còn bên kia biên giới thì sao?
Bên kia biên giới. Thủ tục giấy tờ hơi phiền phức: Cục Hậu cần Quân khu 9 quên làm giấy xuất cảnh cho chúng tôi. Nhưng không sao, rốt cùng xe vẫn qua được.
Núi Sam mùa nước nổi. 
Bên kia biên giới! Núi Som chìm trong nền trời xanh lạnh mịt mờ hơi nước. Hùng vĩ hơn, núi Bokor (Tà-lơn) án ngữ cả chân trời trong một sắc độ nhòa nhạt, chực biến với cao xanh. Cũng những cánh đồng, những hàng dừa, những cụm vườn xum xuê cây trái, những mái tranh nâu vàng ẩn núp trong cây, trầm lặng và khiêm tốn. Như phương Đông. Như dân tộc mình. Nếu không có chuyện phiền phức ở cửa khẩu có lẽ tôi sẽ không nhận ra mình vừa đi đi qua biên giới một nước khác.Đâu phải thiên nhiên, mà chính con người – với những thói tật và phẩm chất của nó – đã chia xẻ ra một cách giả tạo.
Đồn biên phòng Campuchia. Một cái chòi nhỏ lợp tôn, gió tốc từng chập khiến những miếng tôn đập nhau kêu côm cốp. Vài người mày rậm, tóc quăn, nước da đen bóng, mặc quân phục… lính Sài Gòn cũ rách mướp, ngồi giương mắt nhìn ra. Nhưng không phải xuất trình giấy tờ, không cần biết ai vừa vào nước, mang theo cái gì, với ý định gì. Không phải làm gì cả!
Tôi cố tìm, nhưng không thể nhận ra, dù là một dấu hiệu nhỏ nhoi của điều ấy – cái điều mà tôi băn khoăn từ hồi ở Cần Thơ. Có lẽ nào cách nay chỉ vài năm, ở “phía bên nây” có những con người giống như thế này, trong những đêm tối trời đã lén lút tràn sang “phía bên kia” – Tổ quốc tôi – bắn, đốt, hảm hiếp, dùng tre nhọn đâm vào bộ phận sinh dục của phụ nữ, xé đôi trẻ con, ăn gan uống máu… Giờ đây sao đất đai, sao cảnh sắc và sao những con người tôi gặp giấu nhẹm tôi, khiến tôi không nhận ra một dấu hiệu nào về điều ấy? Họ giống hệt như những nông dân Việt Nam: lam lủ, thầm lặng, vui buồn trong nỗi hiu hắt của những mảnh ruộng con, những làng mạc bé nhỏ; sống giữa đất và trời; cái nước da đen đủi, cái bạc phếch áo quần, cái còng lưng cơ cực, những nếp nhăn và những vết chai sần. Không có gì khác cả! Cảm quan của tôi không phân tích nổi hiện thực, không giúp tôi nhận ra mình vừa đi qua biên giới một nước đã từng để cái bộ phận tệ hại nhất của nó khống chế, từng để cho một cuộc cách mạng bị đánh lừa, bị nhấn chìm trong thảm sát. Chúng áp đảo xã hội, đày đọa dân tộc, công khai suy tôn cái ác và gây bao thảm họa cho con người, trước hết là cho dân tộc mình và cho một nước khác vốn là người bạn hào hiệp, chí tình và cao thượng của mình. Tôi đang đi trên một đất nước như vậy đó và chứng kiến sự bình thản của mọi vật như là thế giới đã bị chai lì đi, thế giới đang khoác cái mặt mo không biết thẹn là gì.
Ôi, cái nền văn minh của chúng ta sao mà xa lạ với tự nhiên đến thế. Cái màu xanh phởn phơ của đồng lúa, của cỏ cây, của sắc trời… đã phủ trùm lên những quá khứ cần nhớ. Chúng đã mọc trên thảm sát – một vụ thảm sát đê tiện nhất lịch sử nhân loại. Chính những kẻ dung dưỡng bọn đao phủ đang tiếp tục sự nghiệp đê tiện của chúng. Từ bài diệt chủng ở một dân tộc, thần kinh chúng được tôi luyện vững vàng thêm để tiến tới những hành động mong đòi tiêu diệt cả nhân loại. Những bức ảnh, những thước phim sẽ chụp, sẽ quay ở đây thật khó nói gì về quá khứ đáng tủi nhục ấy. Chính thiên nhiên sinh động, vô tư đã phủ trùm lên, đi lướt qua mọi đau thương và hạnh phúc của con người. Biên giới? Không có biên giới nào hết. Chỉ có biên giới trong tư tưởng, mà ngay cả tư tưởng cũng có thể bị tự nhiên đánh lừa!
Xe đi càng sâu vào đất bạn. Đường quá xấu, nhưng không sao. Cái cảnh “travelling” luôn bị xốc mạnh này, dù kéo dài những hai trăm cây số nữa, cũng không hề làm tôi chán mắt.
Rừng cây thốt nốt trên đất Campuchia.
Cây thốt nốt xuất hiện ngày càng nhiều, cây dừa ít hẳn. Chẳng hiểu đất đai có gì khác lạ. Cây thốt nốt tự khắc tạo dáng, tạo hình, pha càng ngày càng đậm “chất Campuchia” trong mọi khung cảnh trước mắt tôi.
Đồng Campuchia dường như bao la hơn ở quê tôi. Có lẽ do có ít những cụm vườn chia xé đất và trời. Có lẽ do cây thốt nốt xa trông như cột trụ những tòa nhà cao tầng nào đó làm liên tưởng thị giác của con người bị lệch theo chiều cao. Có lẽ do mùa nước nổi làm cái mặt phẳng loáng bạc này đánh lừa chúng tôi. Có lẽ do lúa ở đây xanh tốt lạ kỳ nên tầm mắt cứ trượt đi mê mẫn trên cái thảm xanh no ấm. Có lẽ… Có lẽ…Nhưng không “có lẽ” gì hết. Tất cả những cái này, phải luôn nhớ, mới vừa mọc lên trên thảm sát!
Sự mỡ mầu của đất khiến tôi nhớ chuyện Pol Pot lấy xác người ủ làm phân. Từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhân loại rụng rời thể nghiệm sự xúc phạm đầu tiên: bọn phát-xít lấy xác người đốt làm phân. Sau đó, trãi nghiệm ấy được tăng cường trong các cuộc chiến tranh bẩn thỉu khắp thế giới. Mặc cho sự thác loạn của tuổi trẻ hiện sinh, sự kết xù đột ngột của tôn giáo – thứ nấm dại của triết học, nhưng lại là món ăn hấp dẫn của những âm mưu chính trị, mặc cho sự nổ bùng những kho bom cách mạng trên thế giới, nhân loại vẫn bị “bình thường hóa” đối với sự xúc phạm này bởi một nền khoa học xã hội nịnh nọt nhân bản, nhân vị. Ôi, đất đai! Sự mỡ mầu này là do xác người, máu người và mồ hôi lao động của con người – xác chính nghĩa trộn lẫn xác gian tà, máu kẻ đê hèn pha chung máu người cao thượng, mồ hôi lao động quên mình và những giọt… nước đái của sự khổ sai. Chính là bí mật sự mỡ mầu của ngươi đó! Hỡi những hạt lúa đang lên đòng, các ngươi đang kết tinh cái gì trong dòng sữa? Và hỡi những ai đang sống, các anh đang thừa hưởng tất cả những trang ô nhục và những dòng ánh sang của pho lịch sử biên niên! Hoa hồng, chim câu, những lứa đôi trên đồng, những em bé đẹp xinh đi học đường xa, những bà mẹ nhân từ, những người cha cương nghị, tính hiếu sát, sự mẫn cảm với tội ác, sự dốt nát, những lớp hậu bối bất tài, những ánh mắt mờ đục niềm mặc cảm truyền thống… - tất cả, tất cả mới đều mọc lên trên thảm sát!
Ở Campuchia, bò rất nhiều! 
Ở Campuchia, bò rất nhiều, trên cánh đồng, trong cụm vườn, dọc lề đường hay bên sườn núi. Các bà mẹ Campuchia tóc rối bù đốm bạc, vận những chiếc xà rông bạc thếch đứng bên đàn bò dưới tàng cây thốt nốt. Những người cha Campuchia đánh trần phơi lớp da đen bóng, những thớ gân chìm nổi như những nét phù điêu cơ động lui cui hun khói cho đàn bò ngay bên hè mái tranh lụp sụp. Những bé trai tóc quăn mắt trắng, những bé gái tóc vàng khét nắng cùng nhau nô giỡn bên đàn bò, vui vẻ nhìn chiếc xe jeep nhà binh mang biển số “KK 2415” màu đỏ băng qua. Một chú bê con dễ thương nhảy cởn trong nắng chiều. Những chuỗi cười giòn tan pha trong thinh lặng của hoàng hôn.
Chiều xuống trên Campuchia. Ráng chiều đỏ rừng rực, xen kẽ là những uốn nét lãng mạn màu tim tím tiếp với màu nâu nhạt, rồi loãng tan trong vô cùng của màu xanh thẫm. Lợp một khoảng trời phía trên là những vẩy mây màu đất sét làm nền cho cây thốt nốt ngược sáng buồn buồn vươn thân trên một vùng cỏ tranh vàng sẩm. Phơ phơ mấy bụi lau rừng trắng xóa như pha thêm kịch tính cho hòa sắc bằng cái vẻ thanh thoát, tơ mơ của nó.
Rồi cảnh sắc chìm vào đêm tối, nhường bước cho âm thanh chế ngự cảm xúc. Tiếng xe rì rầm nẩy bật trên đường xốc. Tiếng thở dài mệt mõi của mọi người. Những câu nói bâng quơ không ai buồn bắt chuyện. Tôi đốt một điếu thuốc cho đỡ buồn ngủ. Còn khoảng 60 cây số nữa là đến Pochentong – nơi nghỉ đêm của đoàn làm phim. Đường ngày càng xấu hơn. Xe chạy với tốc độ rất chậm, dưới gầm xe có tiếng kêu lạ đáng ngại. Qua ánh đèn xe, tôi bắt gặp các dân quân Campuchia gác đêm. Cứ khoảng 200 thước là có một trạm, dung chà tre làm cửa ở hai đầu. Tôi hỏi người sĩ quan dẫn đường:
-Sao mật độ canh gác lại dày như vậy, thượng úy?
-À, họ gác những cống nước của làng. Thỉnh thoảng bọn Pon Pot mò về xúi giục kẻ xấu phá hoại.
Ra vậy. Có rất nhiều công trình thủy lợi nhỏ xây dọc tuyến đường. Ở một vài trạm, xe phải dừng lại. Những chàng trai Campuchia cổ quấn khăn karma, miệng phì phèo thuốc rê, tay cầm AR.15 hay AK.47 đi đi lại lại. Họ hỏi chúng tôi bằng thứ tiếng Việt không có dấu thanh:
-Bo đoi Viet Nam ha? (Bộ đội Việt Nam hả?)
-Bat. (Vâng)
-Samaki. (Chào đoàn kết)
-O kun chrơn nás! (Cảm ơn nhiều)
Trên xe mạnh ai nấy đáp lại bằng những câu tiếng Khmer bấp bỏm mà mình biết. Điều này làm tôi thích hơn sự mặc cảm luôn làm cong những tia nhìn của họ. Ai biết được trong đáy mắt mờ đục kia ẩn giấu cái gì? Tác giả cuốn “Campuchia – nụ cười không bao giờ tắt” viết rằng: Chỉ khi múa, người Campuchia mới thực là họ, nhìn vào mắt họ mới thực hiểu hết chiều sâu của tâm hồn.
-Đùng!
Chiếc xe đột ngột chao nghiêng, lảo đảo trên mặt đường. Có nhiều tiếng súng nổ phía sau xe và cả hai bên đường. Những đường đạn vạch lửa lên trời như đe dọa. Chiếc xe của chúng tôi dừng hẳn lại. Trong bóng tối nhờ nhờ của những cụm vườn, chợt le lói vài ánh đèn dầu. Mọi người xuống xe tản ra các phía. Chừng 3 phút sau có nhiều tiếng chân thình thịch chạy tới, tiếng kim khí chạm nhau lách cách. Tôi căng mắt nhìn. Thấp thoáng 4-5 người đàn ông ở trần trùng trục, tay cầm súng vừa chạy, vừa nói xí xô xí xào bằng tiếng Khmer. Vài người trong đoàn bước ra trả lời họ. Hóa ra đây là những dân quân ở trạm gác gần nhất. Nghe tiếng xe nổ bánh, họ tưởng bọn Pon Pot tấn công chúng tôi nên lập tức tiếp ứng. Chà, một phong trào “bảo vệ an ninh tổ quốc” loại mạnh. (Sau này, khi đến Viện Quân y 122, chúng tôi được vị Trưởng phòng Quân y tiền phương cho biết: Chính khúc đường đó bọn Pon Pot hay tấn công ta, nhưng khá lâu rồi không còn xảy ra chuyện gì nữa).
Đến một khúc đường, chú Hồ Thanh Xuân chỉ vào bóng tối:
-Nè, mầy Tuấn nè. Thằng Sơn Tràng hồi trước hy sinh chỗ đó, lấy xác không được.
Phía ấy tối đen như mực, tôi nào biết đâu là đâu, nhưng lòng thì như ở lại. Tôi xúc động nghĩ đến lớp phóng viên đàn anh, đến sự tiếp nối các thế hệ làm báo, đến…Làm báo là hoạt động trong một lĩnh vực thuộc về tinh thần, là gieo những thành quả lao động trí tuệ mang dấu ấn của bản thân mình vào tiềm thức những người cùng thời. Nó sẽ tồn tại mãi mãi ở đó. Sự tồn tại này góp phần tạo nên văn hóa. Cái chết của một nhà báo cần phải có sức mạnh như vậy. Sẽ không thể hiểu nổi nếu một nhà báo chết đi lại không để một dấu vết dù là nhỏ nhoi đi nữa vào trong tinh thần của cuộc sống mà mình sống.
Mãi đến 24 giờ tối, chúng tôi mới được ăn cơm. Ăn xong thì lăn ra ngủ. Bao ý tưởng trong đầu tan loãng ra, đắm chìm trong cơn mê mệt đục ngầu, mờ mịt.
9 giờ sáng ngày 25.11.1983. Cục Hậu cần Mặt trận 979 cho một chiếc xe jeep đưa chúng tôi đi Koh Kong. Cùng đi có một thiếu tá quân y và một thiếu úy thuộc Bộ Tham mưu Quân khu 9.
Xe lao băng băng trên Quốc lộ 4 tráng nhựa bằng phẵng, sạch đẹp. Trời xanh veo. Những cụm mây trắng nhẹ lửng lơ trên vòm trời thốt nốt. Lúa mùa đang lên đòng, triu trỉu một niềm vui chưa hé lộ. Hai bên đường lác đác những nếp nhà sàn còn mang vẻ phóng khoáng, tạm bợ, chưa bao hàm chút nào hơi hám sự an cư. Vài chiếc xe bò trên đường nom ra dáng… Campuchia lắm lắm. Cổ bò đeo vòng lục lạc, lại được cột thêm những túm sợi nhiều màu. Gác lên cái ách là một cái cần cong vút, hình như bằng sừng chớ không phải bằng gỗ, đầu cần là nơi cột dây treo mũi cho bò. Trên xe, một bà mẹ trẻ vận sarong hoa hòe sặc sỡ, sau lưng là vài tí nhóc đen thùi lùi giỡn nhau, nhe răng cười sáng giới. Những chiếc Cup 50 ít thấy ở Cần Thơ lại xuất hiện rất nhiều ở đây. Xe đạp thì gắn… kính chiếu hậu y như xe honda và kính được bọc túi len nhiều màu.
Kia là trường đại học, trông như một ngôi chùa cỡ lớn với mô-típ mái cong truyền thống. Trong sân, nam nữ sinh viên đi lại, chuyện trò. Họ là tinh hoa của lớp hậu bối còn sót lại sau thảm sát. Hẳn là họ đang học tập, nghiên cứu với khát khao cháy bỏng trong lòng. Những mơ ước lớn và trách nhiệm lớn tự khắc sẽ dạy họ biết cách trở thành những tài năng lớn cho đất nước mình.
Đại học Hoàng gia Campuchia.
Đường bắt đầu có nhiều chỗ lõm được vá víu tạm bợ bằng đất đỏ. Người thiếu úy ngồi kế bên tôi nói:          
-Đó là dấu mìn phục kích của địch.
Trời, dấu mìn có rất nhiều. Cứ khoảng 2-3 chục thước là có một vụ phục kích. Hai bên, rừng già chạy tít lên dốc núi; từ trên dốc núi, cỏ tranh lấn sát ra mặt đường. Ở một vài chỗ, cây cỏ cháy đen hoặc vàng vọt như bị thiếu máu. Tới một đoạn lau lách rậm rạp, đường thì ngoằn ngoèo, chỉ thấy trước mặt khoảng chừng 3 thước, bên hông trái là đồi, trên đồi nhiều cây kín mít – địa thế lý tưởng cho một cuộc phục kích. Quả nhiên trước đầu xe hiện ra một lỗ mìn thật lớn, cũng được vá tạm bằng đất đỏ. Người thiếu úy lại nói:
-Năm 1981, có 3 chuyên gia Liên Xô ở sứ quán bị chết tại đây. Tụi nó gài mìn kết hợp bố trí B.40 trên đồi bắn vào xe.
Tự dưng tôi nghĩ đến Việt Nam. Cũng chung một phong cách hào hiệp trên đời, chúng ta đang sống một lối sống tuyệt vời nhất với chính mình, với bạn bè và với cả loài người tiến bộ - lối sống của bậc anh hùng. Rừng vẫn cứ xanh mơn mởn. Đá núi vẫn ù lì một màu xám mốc. Gió thổi táp vào xe lạnh buốt. Lơ thơ vài tàng cây cháy trơ than từ năm 1979 đứng giữa trời như dấu tích, như một sự tưởng niệm thầm lặng trong cái nông nổi vô tình của tự nhiên.
Cứ khoảng 100 thước lại thấy một tốp bộ đội Việt Nam. Ta phải rải quân dọc theo tuyến đường suốt từ 6 giờ sáng đến 16 giờ chiều để bảo vệ giao thông. Ngoài giờ đó ra, không một xe nào được phép qua lại. Dấu mìn có khi xuất hiện ngay điểm chốt, thậm chí ngay cửa doanh trại. Cuộc chiến đấu thật gay go, phức tạp. Bọn Pon Pot tấn công theo chiến thuật của bọn giựt dọc: bắn lén vài quả đạn là cuốn gói chuồn ngay. Bộ đội Việt Nam sống rất kham khổ. Tôi thấy nhiều tổ ngồi ăn cơm nắm ngay bên vệ đường; 3 người 3 khẩu sung, phía sau là chòi tranh; tóc dài; áo vá nhiều nơi. Nhưng cũng rất văn hóa: doanh trại là những ngôi nhà vách trát đất trắng xóa, mái lợp những tấm tranh được đánh cẩn thận, trước cửa có một giàn mướp, vài chậu hoa, thêm chiếc sào phơi những bộ quân phục bạc thếch. Còn chung quanh là rừng. Rừng bạt ngàn, rậm rạp, cỏ tranh cao lút đầu người, càng tăng vẻ hoang vu…
Một góc đèo Pick Nil.
Xe tăng tốc lên đèo Pick Nil. Độ dốc cao, địa thế hùng vĩ. Trên vách núi, cỏ tranh mọc đầy, gió xoáy làm rũ rượi, xa trông như một lớp rêu già xao động. Trên kẽ đá là những lùm cây mọc chênh vênh bên bờ vực thẳm. Những mảng lá ngược sáng, chếch sáng tạo dáng độc đáo. Hai lớp núi nối nhau chạy biến vào nền trời. Hơi nước làm những vệt nhạt nhất cứ hư hư thực thực, chẳng biết là núi, là mây hay nền trời. Nếu bên trên là sự huyền ảo thì bên dưới là sự ghê người. Ngoài mép đường là vực sâu hun hút, có nhiều chỗ sụp lở. Những tàng cây cổ thụ cao nhất từ dưới đáy vực chỉ lú lên bên mép đường từng chòm lá non nhỏ bé.
Xe đổ xuống đèo. Con đường quanh co như vệt rắn bò bên dưới những tàng cây và bên trên vệt trũng của cao nguyên…

Cần Thơ, ngày 2.1.1984
LÊ VŨ TUẤN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét