Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

NÚI KANREI TRONG MỜ SƯƠNG


Đó là một buổi sáng lạnh lẽo của tháng chín năm 1988. Đứng trên sân thượng tòa nhà hai tầng nằm sát bờ sông Tonle Sap, nơi được chọn làm trụ sở Đoàn 9902 Quân tình nguyện Việt Nam của tỉnh Hậu Giang, lần đầu tiên tôi mới được nhìn thấy núi Kanrei (1) nổi tiếng của miền Tây Bắc.

Hành quân ngang núi  

Dòng Tonle Sap xa trông như một dải lụa bạc lạnh giá buông rơi từ tay nàng tiên nữ bí ẩn nằm uốn lượn trên biển cây xanh điệp điệp, trùng trùng. Mặt trời tinh mơ giống như đám hỏa táng trên vách núi thấp mù sương phía Đông. Một chiếc tàu chiến mũi bằng của Hải quân Campuchia kéo còi rền vang từ căn cứ gần đó, đường bệ chạy ra giữa dòng triều, rồi hướng về phía cửa biển. Những vệt sóng trắng xóa vồ vập xô bờ, đập rung thành lau lách. Phảng phất mùi cá tươi từ mấy chiếc xe ngựa lọc cọc chạy ngang dưới đường, tiến về chợ Bến Nồi rộn rịp gần đó. Từ loa truyền thanh mắc trong tang còng đen thẩm, bài kinh cầu nguyện buổi sáng rập rềnh lan tỏa cả một vùng sông nước. Có lẽ xóm nhà bè của Việt kiều ở tít bên kia sông cũng nghe thấy nó. Một con ó biển cổ trắng, cánh nâu ung dung chao lượn trên không bất thần sà xuống, lẹn như một tên hải tặc, giật phắt trên tay bác thợ chài râu rậm một con cá rõ to – thứ cá Biển Hồ đặc biệt mập béo.
Nhịp sống Bến Nồi đang dần đi vào tiết tấu sôi động nhất của một ngày trên vùng sông nước. Những chiếc tàu đò một tầng đông nghịt người và hàng hóa sẽ từ Phnom Penh, Siem Reap lần lượt cặp bến trước khi băng qua Biển Hồ đi Pursat và Battambang. Những chiếc ghe chài có gắn máy xay nước đá sẽ tụ tập đông them để mua cá của dân chài. Tiền trao cháo múc, mặc cả, đổi chác, cãi vã, bắt mối làm ăn. Tiếng Campuchia chen lẫn cùng tiếng Việt, lao xao trong cuộc tranh sống. Người ta có thể tìm thấy ở đây đủ mọi sản vật đặc trưng của tỉnh Kampong Chhnang: cá sấy, cá khô đủ loại, trăn, rắn, mật ong, kỳ đà, càng đước… Trên các quầy chạp phô trong chợ, nằm cạnh những ống nước thốt nốt chua, những chiếc cà om đủ cỡ đựng đầy đường thốt nốt… là các mặt hang tiêu dung đa dạng của Liên Xô, Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore…: tranh ảnh, tập vỡ, bình thủy, đèn pin, vải vóc, quần Jean áo Pull, các loại mỹ phẩm cao cấp, radio, cassette, tivi…
-Kampong Chhnang, tiếng Campuchia có nghĩa là bến nồi – nhà thơ Chiumen, tác giả một tập thơ lưu hành bí mật dưới thời Pon Pot rất nổi tiếng, đã được đưa vào sách giáo khoa, hiện là Giám đốc Sở Văn hóa - thông tin, giải thích. – “Bến Nồi” trở thành tên tỉnh của chúng tôi vào khoảng thế kỷ thứ 11. Tục ngữ Campuchia có câu “Chơ- năng đây rồ-bót khét kom-pông chơ-năng đam bai thơ-em”. Nghĩa là “Nồi đất của tỉnh Bến Nồi nấu cơm ngon ngọt”. Nghề nắn nồi đất, nắm cà om của dân tỉnh tôi từ xa xưa đã nổi danh cả nước. Theo các tuyến đường xe bò xuyên rừng hoặc các tuyến đò ngược xuôi trên sông Tonle Sap, nồi đất của tỉnh chúng tôi đã đi đến các tỉnh: Battambang, Pursat, Kampong Thom, Kampong Cham, Kampong Speu, Kampot và cả vùng Châu Đốc của Việt Nam nữa.
Trung tá Bảy Nam, Phó Chỉ huy trưởng Đoàn 9902, nãy giờ cùng đứng trên sân thượng với đoàn làm phim, bất ngờ giơ tay chỉ qua bên kia sông:
-Các chú coi, núi “Con Gây” trong sương sớm đẹp ghê chưa. Cảnh này mà vô phim chắc “ăn ảnh” lắm.
(Hầu hết bộ đội tình nguyện Việt Nam đều gọi núi Kanrei là “Con Gây”, cũng tương tự như bà con Việt kiều hay gọi Kampong Chhnang là “Vũng Xơ-năng” vậy).
Tôi đưa mắt… bơi qua dòng Tonle Sap ồn ả nhịp sống và bất thần ngợp chìm trong sự tĩnh lặng kỳ lạ của biển sương mù đang vây quanh trên đỉnh núi truyền thuyết. Trong ánh mai bàng bạc, những đường nét mềm mại của núi dần hiện ra, tạo dáng một nàng con gái nằm sấp, mặt gục xuống nước, đôi tay vươn dài về phía Nam, mái tóc xỏa trùm lên dải rừng thưa thấp thoáng trong sương mù. Một cái gì đó vừa đẹp, vừa bi thảm gợi lên trong tôi nỗi xao xuyến mơ hồ. Chưa bao giờ tôi được thấy trong đời hình ảnh một con người đang đắm chìm trong nỗi tuyệt vọng khôn nguôi ở một qui mô kỳ vĩ như vậy!
-Chỗ nàng “Con Gây” nằm có tên là Kampong Hao, nghĩa là “bến gọi” – trung tá Bảy Nam cho biết thêm. – Còn chỗ tay nàng vói tới gọi là Kampong Lenh, tức là huyện 16 bây giờ. Nghĩa của chữ đó có anh dịch là “bến vui chơi”, có anh lại dịch là “bến chia ly”. Theo tôi, dịch “bến chia ly” nghe phù hợp hơn vì tên đất ở đây gắn liền với một truyền thuyết.
Mang chiến lợi phẩm trở về 
Truyền thuyết kể rằng: Nàng Kanrei là con gái của mụ chằn độc ác. Để ngoi lên ngôi vị hoàng hậu, mụ đã dung pháp thuật hóa thành một giai nhân tuyệt sắc để mê hoặc nhà vua, xúi giục vua cho móc mắt 12 hoàng hậu và tống giam họ vào hầm đá khi đang mang thai. Còn Ruthisan là một hoàng tử được sinh ra từ một địa ngục thật sự: Vì quá đói, 12 bà hoàng hậu cam kết với nhau ai sinh con trước thì phải chia ra làm 12 phần để… ăn thịt. Chỉ có mẹ của Ruthisan là gắng chịu đói, để dành 11 phần thịt được chia trước đó đưa cho các bà kia, nói con mình đã chết trong bụng nên thịt có mùi thối. Rồi những ngày bi thảm trôi qua: Ruthisan lớn lên, hàng ngày len tấm thân bé nhỏ qua song sắt, vào làng kiếm miếng ăn nuôi mẹ, nuôi dì. Mười tám năm sau, khi Ruthisan đã nổi tiếng trong làng là một chàng trai thông minh, đỉnh ngộ thì mụ mụ chằn phát hiện ra than thế của mình. Mụ giả cách nhờ Ruthisan mang thư đến xứ chằn đưa cho con gái mình là nàng Kanrei. Thư viết: “Hãy ăn thịt ngay người đưa thư”. Dọc đường, khi Ruthisan mệt mõi ngủ quên, Phật hiện ra sửa thư: “Hãy cưới ngay chàng trai này làm chồng”. Thế là trai tài gái sắc chung sống bên nhau những tháng ngày nồng ấm, hết mực chân thành và yêu thương nhau. Một hôm, nàng Kanrei mở hết cửa kho trong xứ chằn cho chồng xem. Mở cả kho cuối cùng mà trước đó ngay cả nàng cũng bị mụ chằn nghiêm cấm. Đó chính là nơi chứa mắt của 12 bà hoàng hậu tình địch. Hiểu ra cớ sự, dù rất mực yêu vợ, nhưng Ruthisan buộc lòng phải phục rượu để nàng Kanrei ngủ say, rồi lấy mắt lẻn đi cứu mẹ. Tỉnh dậy, nàng Kanrei dùng pháp thuật đuổi theo. Phật hiện ra cho Ruthisan trái cam, khi ném ra lập tức hóa thành sông Tonle Sap mênh mông sóng nước. Nàng Kanrei bất hạnh chỉ còn biết cất lên tiếng kêu tuyệt vọng của tình yêu ở Kampong Hao (Bến Chia ly) và gục chết ở Kampong Lenh (Bến Đợi chờ). Xác nàng hóa thành núi, mang khối u tình đau đớn mãi với thời gian.
-Dân tộc Campuchia thương nàng Kanrei vì có tấm lòng thủy chung cao quí – nhà thơ Chiumen khẽ khàng nói. – Ngày nay, các cô gái Kampong Chhnang trước khi cưới chồng đều được cha mẹ đem chuyện nàng Kanrei ra để dạy dỗ, khuyên nhủ.
Gió ào thổi làm mọi người trên sân thượng co ro vì lạnh. Trung tá Bảy Namvừa chăm chú nhìn người quay phim đang cố chỉnh ống kính, ghi hình núi Kanrei trong sương mờ, vừa vui vẻ nói:
-Nếu sau này Campichia có được hòa bình, tôi đoan chắc là Bạn sẽ biến tòa nhà này thành điểm du lịch lý tưởng, bởi chỉ ở vị trí này người ta mới có thể thấy núi “Con Gây” trong dáng nàng con gái.
Một tiếng “ồ” thú vị bật lên. Những liên tưởng về một nền hòa bình mong ước làm mọi người im lặng hồi lâu. Người phụ quay vụt chuyển đề tài:
-Chú Bảy, đứng đây nhìn qua, Tiểu đoàn Tây Đô đóng quân ở chỗ nào?
-Chỗ chót tay nàng con gái là bộ phận trinh sát của “thằng” Tây Đô. Nhích lên chút xíu, khoảng một cây số là Kampong Lenh, trung tâm huyện 16, nơi đặt tiểu đoàn bộ.
Tôi hỏi vui:
-Tây Đô là đơn vị 2 lần Anh hùng, còn nàng Kanrei là giai nhân của nước bạn. Cho một người hung đứng chân bên núi để bảo vệ, phải chăng Đoàn 9902 có ý tứ gì đây?
Trung tá Bảy Nam cười ha hả, phẩy mạnh tay trong không khí:
-Chỉ là sự ngẫu nhiên thôi. “Thằng” Tây Đô là đơn vị duy nhất của Hậu Giang còn ở lại giúp bạn mà Kampong Lenh lại là trọng điểm chiến trường khu vực này. Chúng tôi là nhà quân sự, đâu có lãng mạn như nhà báo các chú!
Hải quân Campuchia phối hợp tác chiến cùng
Đoàn 9902 trên 
"đồng cỏ đỏ" giáp ranh 3 tỉnh
Biển Hồ tháng 9.1988
Sau đó, chúng tôi đi huyện 10 ở vùng giáp ranh với tỉnh Pursat. Tại chùa Samdec Tok, chúng tôi phỏng vấn chị Chuol Pha, một phụ nữ trạc 40 tuổi, vóc người đầy đặn, phải nói là rất rất đẹp, hiện là y tá của bệnh viện huyện. Trước đó, tôi đã được các đồng chí trong Ủy ban huyện giới thiệu về chị như là một “nạn nhân đau khổ nhất dưới chế độ diệt chủng Pon Pot” và đã có hai hãng truyền hình Mỹ đến phỏng vấn chị trong những năm trước đây. Lời giới thiệu trái với những gì mà tôi quan sát được: Vẻ ngoài của chị gây ấn tượng về một phụ nữ lịch thiệp, có học thức và đang hoàn toàn hài lòng về cuộc sống của mình. Trước khi thu hình, qua anh Thi Hùng Trí, phiên dịch của Đoàn 9902, tôi được chị cho biết vắn tắt: Chị hiện có chồng là một nhà sư bị đày ải dưới thời Pon Pot, sau năm 1979 thì hoàn tục, trở lại cuộc sống bình thường và đã có hai con. Gia đình đủ ăn, đủ mặc, con cái được học hành. Nhưng đây là người chồng sau, còn người chồng trước của chị thì…
-Tôi và chồng tôi trước đây đều tham gia chống lại chế độ Lon Non – chị Chuol Pha kể trước máy quay phim. – Đã có lần tôi cùng đội biệt động tổ chức đánh bom Tỏa đại sứ Mỹ ở Phnom Penh trước năm 1975. Chồng tôi tham gia Khmer Đỏ, từng có thời gian là phóng viên. Khi Pon Pot lên cầm quyền, chúng kết tội chồng tôi than Việt Nam, bắt đi giết mất. Còn tôi và hai đứa con gái thì bị chúng đưa vào chùa Samdec Tok này cùng nhiều người khác giam giữ và tra tấn hết sức dã man. Vì không ép được tôi khai theo ý chúng cho nên…
Chị Chuol Pha vụt ôm mặt khóc nức nở. Sau lưng chị là khu nhà trưng bày xương, sọ và tất cả những gì còn sót lại của BA MƯƠI HAI NGÀN NGƯỜI bị giết hại tại ngôi chùa – trại tập trung mang tên Samdec Tok. Khói từ nén nhang chị thắp ở lư hương bốc lên nghi ngút. Gió quẩn làm chúng cuống quít quyện quanh như những linh hồn oan khuất vẫn đang còn bàng hoàng, sợ hãi. Không biết tiếng Campuchia, tôi đành phải dùng mắt để an ủi chị và giơ micro lên nhắc chị mình đang đứng trước máy thu hình. Chị Chuol Pha nén khóc nói tiếp, nhưng đã bằng một giọng không còn dằn nỗi sự căm hờn:
-Chúng… bắt hai đứa con gái của tôi, đứa mới 5 tuổi, đứa mới 2 tuổi, mang ra cho khỉ đột… hãm hiếp. Hai cháu sưng mình sưng mẩy hết. Đến ba ngày sau thì chết… Chỗ đó ở đằng kia kìa!
Chị giơ tay chỉ và bất giác chúng tôi quên cả việc thu hình, đều quay theo mà nhìn. Đó chỉ là một cái sàn nhà bình thường. Ở kế bên, người ta đang trang hoàng, bày biện để chuẩn bị cho lễ Pchum Ben (2). Không hiểu sao khi trở lại cuộc phỏng vấn, tôi hỏi chị:
-Chị còn nhớ người Việt Nam đầu tiên mình gặp vào năm 1979 là ai không? Chị Chuol Pha nói ngay:
-Khi bộ đội Việt Nam tới giải cứu, có một anh tên là Thanh. Nghe chuyện gia đình tôi, ảnh rất thương cảm nên xin phép đơn vị dẫn tôi đi tìm con. Tôi còn hai đứa con nữa bị Pon Pot đưa đi đâu không rõ. Tôi và Thanh tìm kiếm hai - ba tháng trời cũng không gặp. Có lẽ chúng đã chết hết rồi. – Chị lại giơ tay lên dụi mắt, đôi mắt đỏ hoe và đẫm lệ. – Sau đó, anh Thanh trở về đơn vị, rồi biệt tăm. Tôi mong gặp lại anh để cảm ơn mà không được.
Kết thúc cuộc phỏng vấn, tôi đi quanh sân chùa Samdec Tok với cảm giác mình vừa bị một cú đấm cực mạnh vào đầu làm cho choáng váng. Cái sàn nhà khủng khiếp đó đây, nơi nhân tính của con người – sản phẩm tuyệt đỉnh của nền văn minh – đã bị quăng ra cho khỉ đột hãm hiếp. Ở cuối cái thế kỷ 20 này mà còn phải thấy những thảm cảnh đó, phải đem nó ra so sánh với việc 11 bà hoàng hậu ăn thịt con trong truyền thuyết thời cổ xưa nam rợ thì thật là ô nhục cho danh hiệu CON NGƯỜI. Và đây, đống xương tàn của những con người bị đọa đầy trong hỏa ngục trần gian, đã gần 10 năm rồi vẫn còn bốc lên mùi tanh lưu cửu. Nó nói với ta điều gì?
Trên nhà sàn kia, người ta đang trang hoàng lễ hội. Trong sân chùa này, những cây vú sữa non tơ đang vẫy ngọn rì rào trong nắng. Đám trẻ con hồn nhiên nô giỡn quanh người quay phim để được coi thứ máy móc lạ mắt. Cuộc sống là như vậy đó. Dù gì đi nữa người ta vẫn buộc lòng phải sống, phải tìm kiếm thêm những niềm vui, những đức tin để mà tiếp tục cuộc sinh tồn. Nhưng thảng hoặc có ai đó trong số người đang vui vầy bên kia chợt quay sang đây mà nhìn, tia mắt chạm phải đống xương người này, cái sàn nhà này mà chết điếng cả người vì sợ hãi? Không sao cả, vì ngay cả nỗi sợ hãi cũng có ích đối với lòng ham sống của con người. Hegel, nhà triết học Đức vĩ đại, chẳng đã từng nói “Cái gì tồn tại là hợp lý; cái gì hợp lý thì tồn tại” đó sao! Nhưng tôi ngờ rằng, sẽ có ít nhất bốn triệu người Campuchia sống sót sau thảm sát sẽ phản đối Hegel. Họ sẽ nói: Chế độ diệt chủng Pon Pot mà là hợp lý ư, vì đã đương nhiên tồn tại 3 năm 8 tháng 20 ngày?
Cùng quay phim Nguyễn Chiến trên tàu Cục 
trưởng Hải quân trong cuộc hành quân
Không biết tôi có thuộc loại “lãng mạn” như trung tá Bảy Nam đã nói hay không mà cả ngày hôm đó, dù bận bịu nhiều chuyện, nhưng trong đầu tôi vẫn không tài nào bứt ra khỏi những ý nghĩ về người anh hung Tây Đô của Quân tình nguyện Việt Nam đứng chân bên nàng Kanrei bất hạnh để bảo vệ nàng, để Kampong Lenh không còn là “bến chia ly” nữa, mà là “bến đợi chờ” – đợi chờ một cuộc hội tụ toàn dân tộc Campuchia, chung sức chung lòng biến nơi đây thành bến bờ hạnh phúc của con người với ý nghĩa “bến vui chơi”. Thậm chí tôi còn nuôi ý định thay đổi kết cấu kịch bản, đưa hình ảnh đó lên thành hình tượng chính của phim. Tôi dành một buổi tối cho ý định này. Bộ phim sẽ được phát triển trên ba điểm tựa chính: Bến Nồi – Núi Kanrei – Tiểu đoàn Tây Đô. Như nam châm hút sắt, tôi hy vọng nó sẽ kéo theo những biến cố lớn, những thành tựu và những con người tiêu biểu với một chiều sâu tư tưởng và mang được bản sắc riêng của mảnh đất đẹp tươi trên miền Tây Bắc này.
Nửa khuya, tôi bàng hoàng thức giấc, đầu nặng như chì, trằn trọc mãi không tài nào ngủ được. Gió sông Tonle Sap ùa vào cửa nhà khách làm những chiếc mùng trắng tung bay phần phật. Quấn chiếc khăn cà ma quanh cổ cho đỡ lạnh, tôi quơ dép lần bước ra phía bờ sông. Tôi muốn nhìn núi Kanrei một lần nữa. Trời đầy trăng. Không gian tràn ngập một thứ ánh sang nhợt nhạt và lạnh giá. Mặt sông phẳng lặng giống như chiếc gương bạc nghi ngút khói. Một cái gì đó huyền bí như bao phủ đất trời. Bất thần có tiếng ai kêu vang dài trên đỉnh núi bên kia sông:
-Ru… thi… san…! Ru… thi … san…! TRở lại đi, Ruthisan…!
Một khoảnh khắc chết lặng bàng hoàng. Tôi giơ tay dụi mắt cho tỉnh ngủ, chợt giật mình vì một bóng đen vụt qua tầm mắt, rồi đảo ra phía bờ song biến mất. Thì ra bọn ó biển trong buổi động trời đã không chịu ngủ mà tung bay tán loạn trong những tang cây yên lặng mơ màng. Bóng nàng Kanrei trước mắt tôi sao giờ đau thương, bi đát quá! Tôi có cảm giác mình đang đứng trước một bức tranh bị rời rã dần ra từng mảnh vì sương. Quả nhiên tôi cảm nhận không lầm. Mây đen ùn ùn kéo tới ken dầy trên đỉnh núi. Mặt sông tối đi từng mảng lớn di động. Gió dồn đuổi song xô về phía biển. Còn tôi thì chạy xô vào nhà tránh cơn mưa đêm vừa rớt hột lộp bộp sau lưng. Đầu tôi nóng bừng bừng, bao ý nghĩ dần tụ thành lời trong thinh lặng:
-Không, có lẽ nào nàng Kanrei chỉ được xem là biểu tượng của lòng chung thủy, mà đó chính là hiện thân của một dân tộc đang gục xuống trong bi kịch của tính người. Và kẻ gây ra bi kịch ấy còn độc ác hơn mụ chằn trong truyền thuyết gấp triệu lần! Đâu phải chỉ có 11 bà hoàng hậu ăn thịt con trong hầm đá, mà ở đây người ta đã từng tiến hành ăn thịt cả một dân tộc! Đâu phải nỗi tuyệt vọng của tình yêu đã khiến nàng Kanrei gục chết, mà chỉ đơn giản là một nhát cuốc cục mịch, thô thiển của bọn lính áo đen! Sự- ngu- dốt- nắm- trong- tay- quyền- lực, đó chính là cái ác đáng sợ nhất trong mọi cái ác trên cõi đời này!  
-Ngày mai phải quay cho bằng được núi Kanrei trong sương mờ... - Người quay phim nằm giường kế bên nói mê, rồi ngủ tiếp.
Tôi thở dài ngã đầu xuống gối:
-Làm sao mà mình quay được núi Kanrei trong sương mờ? Làm sao mà mình quay được chân tướng của cái ác ẩn tàng trong truyền thuyết về nàng con gái đó? Vì nó tản mạn như mù. Chỉ cần một giây ngọn lửa thiện lụi tàn là có them một tên lính áo đen ngu dốt được cấp súng, được trao cho quyền lực. Dần dần như nước ứ tràn bờ, guồng máy phục vụ xã hội bổng biến thành tai họa của nhân dân. Máu lênh láng của BA TRIỆU CON NGƯỜI đã chảy trên đất nước này chẳng lẽ không đủ để chứng minh điều đó? Ôi thằng nói mê. Làm sao mà chúng ta có thể quay được núi Kanrei trong sương mờ?

Kampong Lenh, ngày 21.1.1989
LÊ VŨ HỒN NHIÊN                                     
(1)  Tên đầy đủ là "Néang Kanrei", có nghĩa là “nàng Kanrei”.
(2)  Lễ Pchum Ben tức là lễ Dolta của đồng bào Khmer Nam Bộ.
(Bài đã đăng trên TUỔI TRẺ CHỦ NHẬT năm 1989)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét