Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

TRĂNG QUÊ

Đã hơn nửa đêm. Bóng trăng đưa đẩy dưới mấy gốc nhãn kế bên hàng ba. Cây đèn ống khói trên bàn mờ hẳn đi, chớp mấy cái rồi vụt tắt. Đêm rằm tràn ngập khu vườn thanh vắng. Có một cái gì đó ngọt ngào, thanh mảnh như ngân nga, như thấm đẫm trong những dòng vàng tuôn chảy trên cỏ cây, trên làng xóm từ ánh trăng quê lâu ngày gặp gỡ. Tiếng chó hàng xóm vụt sủa râm ran. Thấp thoáng ngoài đường bóng mấy người đàn bà đội trái cây ra lộ đón xe tài nhứt đi chợ Sa Đéc. Phăng rủ tôi ra cồn chơi. Hai đứa bước xuống xuồng. Phăng vụt hỏi:
-Lấy đờn theo, hả?
-Thôi, già rồi ông bạn ơi! – tôi từ chối.
Tôi ngồi khoang giữa. Phăng đẩy mạnh cây dầm vô đám rể xương cá chằng chịt sát mé nước. Xuồng lao băng băng giữa mấy đám lục bình lờ đờ trên mặt nước đầy bọt lấp loáng ánh trăng. Hồi đó, khi tôi còn chưa lên Sài Gòn học đại học, vào những đêm trăng như thế này, cánh trẻ tụi tôi thường rủ nhau ra cồn chơi. Nơi có những bãi mía bạt ngàn nằm sát con sông Tiền cuồn cuộn phù sa. Và lần nào cũng vậy, tụi nó không quên nhắc tôi xách theo cây đờn tân nhạc. Hồi ấy tôi chỉ mới biết đờn bập bõm vài điệu bô-lê-rô học ké thằng bạn trên Cầu Bắc, nhưng anh em rất khoái vì đa số chỉ rành món vọng cổ mà thôi.
Len lỏi trong mấy cái mương tối, cỏ lau đẫm sương gạt nhẹ vào mặt buôn buốt, tiếng dầm khua nước lỏm bỏm làm ánh trăng tan, khi cười nói râm ran những câu chuyện bang quơ của tuổi mới lớn, lúc ôm bụng cười lăn tưởng đến nổ trời vì chuyện tiếu lâm (đến nỗi có lần bị nước ào vô xuồng chìm nghĩm), khi hồi hộp theo dõi thằng Cò Các-lơ trổ tài bắng nạng giàn thun hạ con rắn nước bự chảng nằm trên đám xác lá mía úa vàng nổi lều bều bên mé nước… Thằng Cò Các-lơ! Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh một chàng trai vóc người vạm vỡ, có cái đầu húi cua tròn trịa và cặp chưn mày lưỡi mác xếch lên nom rất ngang. Nhưng có ai nhìn cái miệng của thằng Cò cười thì mới biết nó là đứa hiền lành, chơn chất như thế nào. Nhà nó ở ngoài cồn Ông, chuyên môn trồng mía. Hễ chúng tôi khều nhau ra cồn chơi chính là đến cái chòi giữ mía rách nát nằm sát bờ sông của nó đó. Biệt tài của thằng Cò là bắn nạng giàn thun. Có thể nói nó bắn nạng giàn thun hay nhứt xứ Rạch Chùa, bách phát bách trúng và đặc biệt hễ giở lên là bắn ngay không cần ngắm. Bọn tôi coi ti-vi thấy có nhân vật Các-lơ bắn sung rất tài bèn đặt cho thằng Cò, gọi riết thành danh. Không biết có phải vì danh tiếng thiện xạ mà thằng Cò được gọi đi thi hành nghĩa vụ quân sự đầu tiên trong bọn chúng tôi hay không, nhưng có điều chúng tôi tin chắc: Sở dĩ thằng Cò không… đào ngũ là vì cái biệt hiệu “Các-lơ” mà bạn bè đặt cho nó đó.
Cỡ 76, 77, nhứt là qua năm 78 nước lụt, hầu hết thanh niên xóm tôi đi nghĩa vụ đều lần lượt trốn về, chỉ riêng thằng Cò là không từ bỏ bộ áo lính. Xóm làng bàn tán xôn xao. Những kẻ đào ngũ đã thêu dệt bao điều khủng khiếp về biên giới Tây Nam, cái đúng kèm theo cái sai, cái có thật chen cùng điều biện hộ, nhưng hơi hám chiến tranh luôn gợi sự tò mò để rồi khi nghe xong, người ta lập tức quên đi mọi chi tiết chính xác, chỉ còn lại nỗi hoang mang. Nào là ở Ba Chúc (An Giang), chỉ trong một đêm, bọn Pôn Pốt tràn sang giết chết hàng mấy ngàn người. Chúng hãm hiếp đàn bà, con gái rồi lấy cọc nhọn đâm vào bộ phận sinh dục cho tới chết. Trẻ con bị xé tét ra làm hai, quăng vô lửa. Rồi những cảnh ăn gan, uống máu nghe đã nhàm tai thời trước giải phóng, giờ cũng được lặp lại. Nào là ở Hồng Ngự (Đồng Tháp), vào mùa nước nổi bộ đội phải kết bè chuối theo “tổ ba ba”, căng hàng ngang phòng thủ. Bọn Pôn Pốt đi tàu bay Mỹ tràn qua, quơ đại liên túi bụi. Rồi chuyện Miên cưỡi ngựa rất đông, bất thần tràn qua biên giới bắn giết, sau đó biến đi ngay không biết đâu mà lần. Một hôm chồng chổng chết trôi tấp vô đám chà rạo ngoài cồn Ông, đầu cổ tay chưn bị chặt hết. Trong xóm nhà nào cũng vót chông tre, uốn chông sắt nộp cho ủy ban xã để gởi lên biên giới. Suốt trên tuyến đường từ Bắc Cao Lãnh xuống Sa Đéc, dân đi chợ về nói: Tất cả cầu lớn, cầu nhỏ đều mới được đắp lô cốt hai bên. Đó là một thời kỳ đầy nỗi lo âu với những đêm dài mất ngủ của các bà mẹ có con đi nghĩa vụ. Giải phóng mới có vài năm, lòng người còn đang xáo trộn, phân vân, phải đâu đã đinh ninh “một giềng một mối”. Má thằng Cò hễ nghe tin ai mới trốn về đều lần tới hỏi thăm. Nghe rồi khóc. Bả than rằng: Phải chi gia đình khá giả, dành dụm cho nó 1-2 chỉ vàng đem theo hộ thân, phòng có dịp trốn về. Rồi bả trở qua trách móc thằng Cò: Sao nó quá khờ dại, không biết xoay trở như con người ta. Duy chỉ có ông Hai Biện, phó chủ tịch xã, mỗi lần gặp chúng tôi là vỗ vai lộp bộp đau điếng, miệng phả ra mùi thuốc lào nồng nặc:          
-Đọ, đo. Thanh niên phải như thằng Cò vậy mới hết xẩy. Tụi bây ráng. Ráng nghe hông. Hả?
Đúng là chúng tôi cũng có lúc hoang mang thiệt. Trong bọn đã có thằng nói buông cương: Tại thằng Cò nó hiền quá nên không dám trốn! Nhưng nó nói vậy chỉ là vì quá nhớ bạn mà thôi, chớ thật ra trong chúng tôi đứa nào cũng có chút tự hào, bởi thằng Cò Các-lơ của chúng tôi là một thằng chịu chơi, “một đi không trở lại”!
Ơi thằng Cò Các-lơ của xóm Rạch Chùa, bây giờ mầy đang chiến đấu ở phương trời nào? Sau khi Campuchia giải phóng, nghe nói mầy đã trở thành người lính tình nguyện rồi. Tao cũng có lần được sang bên đó, đi tới Pua-sát, vô tận Srê-ăm-ben, nhưng đất nước Ăng-co mênh mông, làm sao mà gặp mầy cho được? Nhưng chính mầy, có biết không, đã giúp tao trong thử thách đầu tiên của nghề biên kịch phim tài liệu.

Đã gần hết đêm mà tôi vẫn không tài nào chợp mắt. Có ai lần đầu tiên đến với chiến trường này, nơi rất ít khi diễn ra những trận đánh ác liệt với xe tăng, đại pháo, với hàng tiểu đoàn, trung đoàn tham chiến, mà chỉ có những tiếng nổ bất ngờ của mìn Gíp làm cụt bàn chân, những đòn đánh lén với B.40, B.40 phẩy 5, B.41, những cơn sốt rét rừng ác hiểm và tất cả những gian khổ, khó khăn vì nắng, vì mưa, vì điều kiện hậu cần eo hẹp hoặc chỉ giản đơn vì thiếu một lá thư nhà. Đó là chiến trường của sự bất ngờ và sự thiếu thốn, nơi luôn đòi hỏi ở người lính sự nhạy cảm và cả sự từng trải để làm chủ bản thân – cái bản lĩnh tâm hồn cao hơn mọi cảm giác về sự thích nghi. Làm sao bạn – với sự dũng cảm chỉ vừa đủ để giữ được vẻ tự nhiên khi đứng trước ống kính của máy thu hình – lại dám ngủ đêm ở một nơi như vậy? Hơn nữa đây cũng là lần đầu tiên một bộ phim tài liệu được dựng theo kịch bản đầu tay của tôi. “Đi về phía có chiến tranh” – người trưởng phòng gầy còm nhưng đầy máu nghệ sĩ của Đài truyền hình đã cười khà khà mà hạ bút đặt tên cho bộ phim tương lai như vậy. Nó đòi hỏi cả nhóm phải thể hiện quá trình nhận thức và phát triển cảm xúc của một “hậu phương thanh bình ở phía sau lưng” về những người lính Việt Nam xa nước, đi giúp bạn. Không muốn để cho hình ảnh người lính tình nguyện trong lòng 12 triệu khán giả Đồng bằng sông Cửu Long mặc tình cho những tin đồn thao túng, nặn vẽ, tính chân thực sẽ là vũ khí mạnh nhất của chúng tôi trong “cuộc hành trình” này. Đã 10 ngày rồi, người quay phim đã thu vào ống kính hàng ngàn feet phim, nhưng mà cái tứ chủ yếu, cái có khả năng thu tóm mọi chất liệu vào một hệ thống hình ảnh nhất quán và đầy cảm xúc, tôi vẫn chưa tìm được. Cả người đạo diễn cũng tỏ ra có ít nhiều lúng túng trong việc định giá chất liệu. Tình hình này thật là gay. Bộ phim có thể bị “đổ” sau khi đài đã chi phí khá nhiều cho chuyến quay xa nhứt từ trước tới nay. Làm sao mà ngủ trong một đêm như vậy?
Trăng lên cao từ lâu. Bóng cây thốt nốt cắt những đường nét đặc trưng của thiên nhiên Campuchia lên nền trời lấm tấm sao. Mấy vệt mây trắng mỏng lướt trôi như có ai vừa kéo nhẹ một chiếc khăn voan qua khuôn cửa sổ. Vài cánh chim đêm vỗ phành phạch trong những tàng cây. Tiếng nước rơi trên lá làm tôi cảm thấy lạnh, kéo tấm chăn lên đắp ngang ngực. Chiếc giường tre kêu lên cọt kẹt áy náy. Lòng bâng khâng một thoáng nhớ nhà. Vì trăng ư?      
… Cái anh chàng thiếu úy Thành ở tiểu đoàn trinh sát thật hấp dẫn, nhưng không tài nào “khai thác” hết anh ta được. Hễ đụng tới ống kính máy thu hình là anh ta lập tức bị lọng cọng ngay, mất hết cái duyên dáng vốn có. Sáng mai có lẽ phải mời anh ta vài ngụm thốt nốt chua. Không được, tháng trước bọn Pôn Pốt đã lén bỏ thuốc độc vào các ống nước thốt nốt ngay từ trên cây. Thằng Tôn, chiến sĩ nhí nhất tiểu đoàn, quê ở Bình Đại (Bến Tre) suýt nữa mất mạng. Ôi, kinh khủng. Bọn chúng đã dám sát hại tới 3 triệu người Khơ-me ruột thịt của mình thì có việc gì mà không dám làm? Nhưng mà nghĩ lại cũng thật là tức. Cái thần của con người ta làm như luôn luôn mâu thuẫn với sự giàn giá cồng kềnh của việc thu hình. Hễ đụng phải ống kính của một “ông ca-mê-ra-man” khệnh khạng là nó biến mất ngay, uổng công khêu gợi, “dẫn xúc” của người phỏng vấn. Làm sao “màn ảnh nhỏ” có thể đi sâu vào những điều thầm kín, tế nhị của con người?
-Bùng… binh! Bùng… binh! Ầm! Tạch tạch tạch!
Đêm tối giật mình choàng tỉnh. Tàng thốt nốt ngoài sân xòe tán lá nhọn chồm tới giật lui trong ánh chớp lập lòe. Người sĩ quan chính trị ngủ chung nhà với tôi nói nhanh:
-Đồng chí, lăn xuống đất, nằm sát nền nhà tránh đạn nhọn!
Tôi quơ vội túi xách đựng kịch bản, phóng đại xuống đất đánh uỵt một cái đau điếng. Trong bóng tối, tiếng lên đạn súng ngắn lách cách, tiếng gọi điện thoại í ới, tiếng bước chân tản ra các phía làm tôi cứ ngỡ như chiến tranh đã… sát ngay trước mặt.
-Nó đánh “dê” thông tin rồi, cách đây 200 mét - người sĩ quan chính trị nói khẽ với tôi, rồi khom mình lao ra cửa.
Từ nhà bên, người đạo diễn và người quay phim lần lượt bò qua nhà tôi. Cả ba cùng nhau gom gọn máy quay, bình sạc cùng trăm thứ bà dằn khác. Quan trọng nhứt bao giờ cũng là cái túi phim đã quay. Có gì chúng tôi cũng phải thủ nó trước! Người đạo diễn có lần kể lại: Trong chiến dịch giải phóng Campuchia tháng giêng năm 79, một nhóm phóng viên của đài trên đường mang phim theo đoàn xe của Cục hậu cần quân khu trở về nước đã bị địch phục kích tại Tà Keo. Người mang túi phim có súng ngắn, theo phản ứng tự nhiên, đã ở lại bắn đoạn hậu cho người quay phim chạy trước và anh đã hy sinh mất xác. Năm năm sau, trong một bộ phim tài liệu về nạn diệt chủng ở Campuchia của hai nhà làm phim Đông Đức lừng danh Soi-man và Hai-nốp-xki, người quay phim còn sống sót đã nhận ra những cảnh quay do chính mình thực hiện. Rất có thể số phim bị mất lần đó đã bị đưa về Trung Quốc và được Soi-man, Hai-nốp-xki mua lại. Việc tuy chưa ai có thể xác minh, nhưng trong giới phóng viên đã rút ra bài học: Từng cảnh phim đã quay đều là chính trị, là tư liệu lịch sử, là tài sản quốc gia. Trong mọi tình huống, phải giữ gìn từng thước phim đã quay!
Trận đánh kéo dài quá 15 phút. Vậy là đánh lớn chớ không phải đánh lén như mọi khi. Từ mùa khô 1984-1985, sau khi bị thất bại nặng nề trên suốt tuyến biên giới Campuchia – Thái Lan, địch chủ trương phân tán lực lượng, luồn sâu vào nội địa đẩy mạnh chiến tranh du kích để tránh tổn thất. Phải chăng đây chính là trận đầu tiên Sư đoàn X. chứng kiến sự chuyển hướng chiến lược của địch? Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau trong bong tối, cùng bức xúc vì một điều canh cánh bên lòng.
Hôm qua, nhóm làm việc ở tiểu đoàn trinh sát, cách sư bộ chừng hai cây số. Đang ăn cơm chiều thì đồng chí Cảnh, tiểu đoàn phó, nhận được điện của sư bộ cho hay: Tối nay rất có thể địch sẽ tấn công vào đơn vị từ hướng Bắc – phía cửa rừng – và hướng Đông Nam – phía có nhiều nhà dân. Ba ngày nay chúng phát hiện có xe jeep của lục-thum hay ra vào tiểu đoàn. (Thực ra đó là xe của chúng tôi. Vì sư bộ chỉ có 2 chiếc dành cho sư trưởng nên địch lầm tưởng). Tin này làm đảo lộn kế hoạch của chúng tôi – ngủ đêm tại tiểu đoàn để quan sát và thu thập chất liệu. Cảnh tỏ ra rất khó xử. Chúng tôi nói với anh là chúng tôi có mang theo 2 súng ngắn, biết bắn và sẳn sàng chấp hành sự phân công, bố trí của anh. Hơn nữa chắc gì chúng tấn công. Cảnh lấy khăn lau mồ hôi đầm đìa trên mặt. Anh đang bị sốt rét khá nặng. Toàn tiểu đoàn bộ hiện chỉ còn non chục tay súng, đều bị kiệt sức do bệnh sốt rét rừng. Tất cả đều chiến đấu ở tiền phương thì ngã bệnh, phải trở về tiểu đoàn. Nửa tháng trước, bọn Pôn Pốt đang đêm đeo mõ trâu vào cổ bò qua bãi mìn luồn vào tung thâm tập kích. Cứ tưởng là trâu của dân đi lạc như mọi khi, tiểu đoàn phải trả giá đắt: hai người lính hy sinh ngay trong loạt B.40 đầu tiên.
-Chúng tôi phải xin ý kiến sư bộ thôi – Cảnh trả lời, rồi bước đến bên máy thông tin.
Anh em xúm lại gắp đồ ăn cho chúng tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình gần gũi với họ nhiều như lúc này. Thiếu úy Thành, phân đội trưởng một phân đội trinh sát, dân Minh Hải, nhập ngũ vì “không muốn ai xúc phạm đến danh dự, phẩm chất của gia đình mình”, sôi nổi nói:
-Cấp trên tính sao em hổng biết, nhưng nếu các anh ở lại thì không phải lo gì ráo trọi. Có gì tụi nó cũng phải bước qua xác tụi này!
“Có phải mầy vừa nói với tao những lời lẽ chân tình ấy không hả Cò?” – tự dưng tôi nghĩ đến thằng Cò Các-lơ mà nước mắt tuôn trào. “Thì những người lính mình gặp ở đây cũng chính là những thằng Cò Các-lơ đi xa nước, chiến đấu giúp bạn đó thôi. Họ cũng có những kỷ niệm về một ánh trăng, về một dòng sông cuồn cuộn phù sa mùa nước đổ và những câu hát nghêu ngao theo tiếng đờn bô-lê-rô bấp bỏm của bạn bè…”
Người đạo diễn quyết định ghi âm trận đánh trong đêm, vì “chúng ta cũng phải làm một cái gì đó chớ”. Tôi và người quay phim bước ra sân, núp sau một cái lô cốt, chuẩn bị mở máy. Tiếng súng bất ngờ rộ lên mãnh liệt. Dường như cuộc chiến tranh này cũng muốn lưu lại dấu vết trong kho ký ức âm thanh của nhân dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có những đứa con xa nhà đang chiến đấu. Người quay phim kiểm tra băng. Bất ngờ vang lên một đoạn phỏng vấn Thành:
-Làm lính trinh sát thì rất nhiều gian khổ các anh à. Trèo đèo lội suối, nhịn đói nhịn khát trong những cuộc hành quân dài ngày. Có đêm mắc võng ngủ trong núi nghe voi đi ầm ầm… Lần đó nửa đêm lạnh quá, tui mơ thấy có cái mo cau, lấy lót lưng ngủ, nhưng rốt cuộc lạnh quá, thức luôn tới sáng.
Cái mo cau ư?
“Kỷ niệm tuổi thơ hóa thành giấc mơ khi đã lớn, quê hương luôn sống rất thực trong lòng họ…” – trong đầu tôi ngân nga một đoạn lời bình, ngước lên đã gặp ngay ánh mắt xúc động của người đạo diễn. Nhưng Thành bổng đâm ra lặng lẽ khác thường. Anh em đợi tới lúc Thành kiếm cớ lảng đi mới kể cho chúng tôi biết “vì sao anh mơ thấy cái mo cau”. Thành có người em gái tên là Hằng. Khi cha chết và mẹ “đi bước nữa”, Hằng bị bệnh nặng, rồi đâm ra ngơ ngẩn hàng tháng trời. Biết em bị điên, Thành chạy lên quân khu tìm một vị đại tá - vốn là bạn chiến đấu của cha mình trước đây – nhờ giúp đưa Hằng vô viện quân y điều trị. (Đưa lên Sài Gòn thì gia đình không đủ khả năng). Khi trở lại nhà, anh đau xót hay tin em gái mình đã chết. Nhân lúc mẹ và dượng ghẻ đi vắng, kẻ gian đang đêm lẻn vào hè bắt Hằng đem đi hãm hiếp cho tới chết, vùi xác dưới mương lục bình. Hình ảnh duy nhất mà anh còn chứng kiến là những chiếc mo cau của trò chơi tuổi nhỏ hàng xóm dùng đắp điếm tạm trên thân thể lõa lồ của đứa em bất hạnh. Sau đó, Thành cương quyết… “một đi không trở lại”. Những ngày ở chiến trường, anh không hề hé răng với ai lời nào về chuyện này. Cho đến một lần phân đội trinh sát của Thành được giao nhiệm vụ đột nhập căn cứ địch ở Tà Sanh. Khi quay trở ra thì bị lộ, phải mở đường máu rút lui. Phân đội hy sinh hết, chỉ còn Nĩ – bị thương nặng – và Thành. Thành đã cõng Nĩ suốt ba ngày đêm trong rừng tìm về đơn vị. Mọi người phát hiện anh bên một bờ suối trong tình trạng kiệt lực, bị sốt rét nặng, miệng cứ lảm nhảm: “Trời ơi, lạnh quá. Hằng ơi, đem cho anh cái mo cau. Lạnh quá, Hằng ơi!”
Thượng úy Cảnh khuyên chúng tôi đừng nên tìm cách phỏng vấn Thành nữa. Anh nói: “Đời cầm quân của tôi chưa từng gặp trường hợp nào như thế này. Có những động cơ tình nguyện rất khó nói, nhưng mà có thật. Thành là một sĩ quan “có lửa”, chiến đấu rất cừ khôi và rất được đồng đội thương mến. Chúng tôi cũng định kết nạp Đảng cho nó, có điều nó còn oán hận chính quyền xã nó lắm. Nó nói: Một cô gái điên mà còn bị hãm hiếp cho tới chết. Vậy thì cái xã đó là một ổ cướp hay là cái gì?”. Ngay buổi trưa hôm đó, chúng tôi cùng quyết định là sẽ mang những thước phim này về nước, thăm nhà của từng người lính một, chiếu lại cho họ xem, ghi lại những nụ cười và những giọt nước mắt của họ, sao cho tiền tuyến và hậu phương đừng cách biệt nhau nữa dù chỉ là trên màn ảnh. (Điều đó sau này đã được thực hiện).
Lúc bước lên xe trở về sư bộ theo lệnh của sư trưởng, tôi ngoái nhìn lại anh em, cố ghi nhận những dáng dấp thân quen trong buổi hoàng hôn Campuchia hoang dã và dữ dội, lòng cảm thấy... xấu hổ làm sao. Cái gì sẽ diễn ra trong lòng chúng tôi nếu ngày mai trở lại, có ai trong số họ không còn nữa? Bộ phim sẽ bị mất nhân vật và lương tâm chúng tôi, liệu có còn chăng sự thanh thản?
… Trời rạng sáng một cách chậm chạp. Trận đánh vừa mới tàn, nhưng vết tích của cuộc chạm súng dường như đã bị cái yên ả kỳ lạ của buổi ban mai nuốt mất. Mặt trời nhô lên khỏi dãy sương mù trên đỉnh núi xám bên kia rừng giá, vung vẩy uy nghi muôn ngàn tia nắng ấm. Tiếng chim ríu rít đâu đó trên không. Đàn gà con chíu chit dưới chân gà mẹ bên sàn nhà ai. Cuộc hồi sinh hàng ngày của thiên nhiên dường như không ăn nhập gì với cuộc hồi sinh hàng đời người của dân tộc này. Niềm vui hay nỗi đau thương của con người chỉ riêng có con người biết đến mà thôi. Tôi cứ đi tìm một điều gì đó mơ hồ tưởng chừng không thể có. Tỉ như một giọt máu, khi rơi xuống đất thì ở đó sẽ lập tức mọc lên một loài hoa đỏ thắm. Tìm trong ánh mắt lờ đờ, mệt mõi của những người già đang tụ tập ở ven đường này ư? Không, họ dường như không nhìn vào một cái gì cả. Đôi mắt họ như có, như không, phải chăng đang đọng chứa tất cả những câu hỏi lớn về số phận con người khi một trang tối đen và bi thảm vừa mới được dân tộc này trầy trật lật qua? Và trong cái vẻ băn khoăn mơ hồ đó còn có cái gì giống như sự mặc cảm nữa – cái mặc cảm của những người cha có lỗi, bởi không ít thanh niên trong cái phum hẻo lánh này đi vô rừng làm rẩy đã ở lại luôn với bọn Pôn Pốt. Người đạo diễn chia sẻ với tôi mối linh cảm mơ hồ:
-Chắc là có người của mình hy sinh rồi. Nếu… có gì thì chúng ta sẽ không tiếc một feet phim nào cả.
Anh rảo bước trên con đường làng còn hằn dấu bánh xe jeep của đài truyền hình chiều hôm qua.
… Và chúng tôi đã không tiếc một feet phim nào cả để ghi lại toàn bộ những hình ảnh sống thực và trần trụi của đám tang hôm ấy. Tôi đứng im lặng thật lâu trước thi hài người lính trẻ trong một nỗi ám ảnh nặng nề. Thành gục khóc nức nở trong lòng “bà má U-ran” – một bà mẹ Campuchia được tiểu đoàn cứu sống trong núi U-ran năm 1979, mang theo đơn vị, phát gạo cấp lương như một chiến sĩ. Cả gia đình mẹ đều bị bọn Pôn Pốt giết chết, không còn ai. Hóa ra người đã hy sinh lại chính là Nĩ – một đồng đội từng được Thành cứu mạng tại căn cứ Tà Sanh. Đêm qua khi Thành đứng xổng lưng định bắn một phát B.41 diệt ổ đại liên địch đặt ngay dưới sàn nhà dân thì bất ngờ một trái lựu đạn rơi sát chân anh. Nĩ đã chồm lên đè trọn khối thuốc nổ chết người. “Bà má U-ran” sụt sùi nói với tôi:
-Thằng Thành nó ngại nhà dân nên không bắn. Thằng Nĩ chết thay cho thằng Thành. Vì dân Campuchia mà các con phải chết, người mẹ Việt Nam phải đau khổ.
Ôi, cái tình đồng đội. Nĩ ơi, làm sao có thể làm khác cái điều mà Nĩ đã làm? Làm sao có thể làm khác cái điều mà Thành đã làm? Đã từng đi qua chiến tranh, chúng ta khao khát đến cháy lòng được xây nhà, cuốc đất, được ôm cây đờn ghi-ta đánh điệu bô-lê-rô cho bè bạn hát, được như Nĩ viết tặng người yêu những vần thơ cháy bỏng: “Tôi muốn đến với tình yêu của em – Ít lời, vụng dại – Muộn màng mà đắm đuối – Như cánh chim gặp gỡ bầu trời”. Nhưng làm sao chúng ta có thể hưởng được hạnh phúc ấy, nếu dửng dưng trước nỗi thống khổ của con người?
Khói nhang quyện vật vờ dưới ánh sáng cực mạnh của chiếc đèn quay. Một cảm giác nôn nao, khó ở chế ngự tôi. Cho đến khi người đạo diễn mang vào một tàu lá thốt nốt ốp thêm vào vòng hoa nom như một bàn tay thì tôi vụt nổi gai ốc khắp người. Dường như tôi và anh đã cùng gặp nhau ở một “tứ phim” mới vừa lóe lên, có thể thu tóm được mọi chất liệu vào một hệ thống hình ảnh nhất quán.
Ơi, thằng Cò Các-lơ, người thanh niên cùng thời với tôi! Nó đã từng sống qua tất cả những cảnh này. Từng bị sốt rét rừng làm da vàng như nghệ, từng nhịn đói, nhịn khát trong những cuộc hành quân dài ngày trong núi, từng mơ thấy chiếc mo cau ôm ngủ dật dựa dưới giao thông hào trong những đêm dài giá lạnh, thần kinh luôn thẳng căng để sẵn sàng đối phó với những trận tập kích bất ngờ. Đôi chân nó đã từng lướt qua những trái mìn Gíp trên các lối mòn. Miệng nó từng suýt uống nhầm những ống nước thốt nốt bị lén bỏ thuốc độc ngay từ trên cây. Bộ óc nó từng đem hết sự từng trãi và cả sự trong trẻo của tâm hồn để phân biệt trong vô vàn tình huống đâu là người tốt, đâu là kẻ xấu. Những thằng Cò Các-lơ có tài bắn nạng giàn thun của quê hương đã bước đi trên con đường lớn của tình hữu nghị, tự nguyện hòa chung tên tuổi mình vào sự nghiệp bất tử của mối tình bè bạn thiêng liêng.  
-Đoàng! Đoàng! Đoàng!
Những người lính bắn lên bầu trời những loạt sung vĩnh biệt đồng đội. Dưới nắng trưa nóng bỏng, cái bàn tay bằng lá thốt nốt cứ đổ bóng đong đưa trên nấm mộ người lính trẻ như an ủi, vuốt ve. Những cọng lau mọc thẳng từ trong những nấm mộ bằng đất xếp thẳng hang trong nghĩa trang liệt sĩ cứ lung linh, nhập nhòa trong mắt, như những nén nhang của thời gian đã cắm xuống tự bao giờ.
“Có một làng quê hiện lên trong ánh mắt cuối cùng của người lính trẻ, nhưng tôi xin gọi anh là người con trai của mảnh đất Đông Dương…”

Xuồng chúng tôi rẻ vào một cái mương tối. Gương mặt Phăng vướng vất bóng sậy, ánh mắt lấp loáng hiện rỏ vẻ trầm ngâm, buồn buồn. Mùi nước cỏ bốc lên hăng hắc. Tiếng loạt soạt của đám xác lá mía dưới đáy xuồng. Sương rớt lộp độp trên sạp tre. Đã nghe hơi thở lồng lộng của con song Tiền cuộn dài trên bãi mía…
Tôi hỏi:
-Phăng à, sao mầy không nói gì về mầy, về thằng Cò ráo trọi vậy? Kể tao nghe đi!
Phăng gác cây dầm ngang be xuồng, móc gói thuốc rê ra vấn đưa cho tôi một điếu. Nó im lặng rít thuốc một hơi khá lâu, rồi mới chịu mở miệng:
-Năm ngoái thằng Cò nó có về. Bị thương lần thứ ba. Nhẹ thôi. Mà bây giờ nó bảnh lắm mầy ơi, đại úy rồi!
-Vậy! – tôi kinh ngạc kêu lên, thầm mừng cho sự trưởng thành của thằng bạn cũ. 76-86: mười năm, từ binh nhì lên đại úy, mới 28 tuổi.
-Nó về đúng dịp thôi nôi thằng con tao – Phăng kể tiếp. – Vợ chồng tao bắt nó nhận làm cha đỡ đầu cho thằng nhỏ. Nó nói: Nhận chớ, vì tui làm mai cho hai ông bà mà. Rồi nó chọc thằng nhỏ: Ráng ăn nhiều mau lớn nghen con. Nữa lớn theo tao, tao cho mầy làm tham mưu trưởng. Đù mẹ, thằng ăn mắm ăn muối. Nó trù con tao đi nghĩa vụ!
Tôi bật cười:
-Lúc đó có lẽ chiến tranh đã… rụng răng hết rồi. Nó phải buông tha cho đất nước này rảnh tay mà làm ăn chớ. Rồi sao nữa, nó có nói gì về tao không?
-Có. Nó nói mầy bây giờ là “quan báo” rồi, làm gì dám quay phim cái cảnh dân cồn Ông thà chặt mía chụm bỏ chớ không chịu bán cho nhà nước.
-Thằng nói ẩu chưa. Tao cũng nghe dân họ kêu: “Bán như cho, mua như ăn cướp”. Họ cũng chửi: “Nhà báo nói láo ăn tiền”. Mà có “ăn tiền” được đâu? Cũng nhức đầu lắm mầy ơi. Mà thôi, kể tiếp về nó đi!
Nhưng thằng Phăng bổng đâm ra im lặng, lầm lì, không chịu nói gì nữa…

Bạn đọc thân mến ơi,
Tôi viết đến đây thì đành phải bỏ ngang. Bỏ ngang đã khá lâu rồi. Vì tôi… sợ. Vâng, mà tôi sợ cũng nhiều lẽ lắm. Biết phải nói làm sao với các bạn đây? Có lẽ nào tôi phải thêm vào câu chuyện này cái kết cuộc mà lòng tôi không muốn? Hay là vì cái óc thẩm mỹ sính “kết thúc có hậu” do nền nghệ thuật cải lương ở mảnh đất Tây Nam Bộ này đã làm… hại tôi? Lẽ nào tôi lại kể ra đây chuyện thằng Có Các-lơ trong kỳ về phép năm đó. Nó đã đi giáp xóm, từ đầu vàm tới cuối ngọn để thăm hỏi bà con. Ai hỏi nó giờ làm tới chức gì, nó chỉ lắc đầu cười: “Cháu là bộ đội thôi”. Nó cũng kiếm thăm từng thằng bạn cũ, nhậu với tụi nó và nghe tụi nó nói. Cho đến ngày trả phép trở lại chiến trường, nó mới rủ thằng Phăng uống một bữa thật say, rồi kéo xuống chợ Mương Điều chơi. Bí thư và chủ tịch xã cũng đang có tiệc nhậu ở đó, kéo nó vô ngồi chung. Lời qua tiếng lại sao đó, nó móc lựu đạn trong mình ra rượt các vị lãnh đạo xã chạy có cờ. Nó chửi vang chợ:
-Đù mẹ, chúng tôi đổ máu ở chiến trường để các ông ở nhà yên ổn mà đục khoét nhân dân phải không? Các ông lãnh đạo cái gì mà dân nghèo, dân đói lại không hay, không biết? Các ông có biết đi đánh giặc bị hở lưng là như thế nào không? Là chết! Tao giết chúng mầy chết. Tao cũng chết luôn. Tự sát chết hết!
… Rồi cơn say cũng đánh gục thằng Cò Các-lơ của chúng tôi. Rồi các vị lãnh đạo xã cũng có lúc hoàn hồn. Thằng Cò bị tống giam. Vài ngày sau, quân pháp quân khu đến giải nó đi. Khi đi, nó chỉ nói với thằng Phăng một câu:
-Chắc tao không về nữa. Ở bển… vui hơn, Phăng à!
Các ngài kiểm duyệt ơi,
Tôi sẽ đắc tội biết bao khi đem một “tên” sĩ quan quân đội về hậu phương quậy quạng lên làm nhân vật chính trong truyện ngắn này mà không hề có lời thanh minh với các ngài rằng: tôi sợ! Vâng, tôi sợ cái ánh trăng quê của lòng tôi không còn nữa. Nó sẽ trở nên trắng bệch, nhợt nhạt giữa ban ngày, vô hồn, vô nghĩa. Nĩ ơi, trong ánh mắt cuối cùng của đời anh, đã hiện lên hình bóng một làng quê như thế nào?

4.1988
LÊ BÍCH NGỌC               
Giải khuyến khích Cuộc thi viết truyện ngắn Báo Tuổi Trẻ năm 1988

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét