Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

CHỮ NHÂN Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI

Quốc khánh năm 1998, từ vùng Đồng Tháp Mười, Trại giam Mỹ Phước (huyện Tân Phước, Tiền Giang) chợt hiện lên như một “tiêu điểm”của giới quan sát: Có tới 308 phạm nhân (PN) được Chủ tịch Nước phê duyệt đặc xá, nhiều nhất VN. Đợi đúng 1 năm, sau khi 308 công dân đặc biệt kia “về đời”, chúng tôi quay trở lại Đồng Tháp Mười lần nữa...
Theo phân loại của Cục quản lý trại giam, Bộ công an (CA), Mỹ Phước là trại giam loại 3 – chuyên nhận PN các tỉnh ĐBSCL có mức án từ 5 năm trở xuống, sức chứa từ 1.200 – 1.500 người. Thời điểm 2.9.1998, trại đang quản lý 691 PN, được xét đặc xá gần 50% - một kỷ lục về tỉ lệ cũng như số lượng trong hệ thống trại giam toàn quốc. Bây giờ, chúng tôi được CA TP. Mỹ Tho cung cấp thêm một kỷ lục thứ hai: Chỉ có 3/84 PN được đặc xá năm 1998 thuộc địa bàn TP tái phạm. Đ/c Nguyễn Hồng Kỳ – Phó giám đốc CA TP – nhấn mạnh: “Hình thức tái phạm cũng chỉ là trộm cắp lặt vặt hay gây rối trật tự công cộng. 81 trường hợp còn lại đều thực sự hoàn lương”.

CẦU HOÀN LƯƠNG
Giữa vùng Đồng Tháp Mười phèn trũng, hiện lên trước mắt chúng tôi một khung cảnh lạ thường: Những dãy nhà ngói đỏ khang trang nằm xen giữa một vùng... hoa kiểng. Bên này là ao sen, bên kia là hồ nước. Có một cây cầu rất đẹp bắt ngang, được đặt tên là cầu Hoàn Lương. Khi thụ án, mọi PN đều bước qua cầu này để tới khu buồng giam. Khi “về đời” cũng vậy, có điều 2 chữ “hoàn lương” đã ngấm vào tâm, chớ không chỉ là tên của cầu.
Trung úy quản giáo Nguyễn Thanh Tâm dẫn chúng tôi đến buồng giam “C” – nơi có 80 PN can tội hình sự và kinh tế, có mức án cao do anh phụ trách – để gặp PN Phạm Văn Tèo. Tèo là PN dạng đặc biệt, bị xử tới 10 năm tù ( vì tội buôn thuốc lá lậu qua biên giới), nhưng được thụ án tại trại giam loại 3. Dọc đường, anh Tâm kể: “Mức án cao thường tỉ lệ thuận với việc “quậy quạng”. Chúng tôi dành phần lớn thời gian trong ngày để gần gũi họ, thông qua các biện pháp tâm lý giúp họ tự giác ngộ”. Tâm quê gốc xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, tốt nghiệp trung học cảnh sát nhân dân, chuyên ngành trại giam từ năm 1994, liên tục nhiều năm liền là “chiến sĩ giỏi”. Lời nói của anh giúp chúng tôi tự lý giải phần nào “kỳ tích” của trại giam - tính chuyên nghiệp. Vậy mà khi gặp PN Tèo cùng 7 PN khác trong tổ cắt kiểng đang say sưa làm việc, chúng tôi vẫn không thể ngờ: Làm đẹp cũng là một... biện pháp nghiệp vụ.
Trung tá Lê Biên Thùy – Phó giám thị Trại giam Mỹ Phước – phân tích: “Sau giờ lao động, nhìn ngắm hoa kiểng giúp PN thư giản. Đầu óc luôn luôn nghĩ tới khía cạnh tích cực. Nhiều thân nhân vô đây thăm, thấy hồ nước, ao sen, hoa kiểng, cầu Hoàn Lương đã tự giác động viên PN: Ở đây như ... đi du lịch, chớ đâu phải ở tù. Ráng chấp hành nội qui cho tốt”. Thật bất ngờ, chúng tôi gặp giữa Đồng Tháp Mười, tư tưởng của nhà triết học Séc-nư-sép-xki nổi tiếng: “Cái đẹp cải tạo thế giới”.
Ở Trại giam Mỹ Phước, PN được tổ chức lao động 8 giờ/ngày (chưa được hướng dẫn: có áp dụng chế độ 40 giờ/tuần đối với lao động cải tạo hay không?), chủ yếu là làm ruộng, trồng khóm và chăm sóc rừng bạch đàn. Mỗi tuần, Hội đồng tự quản và cán bộ quản giáo hướng dẫn sinh hoạt lệ 1 lần. Mỗi buồng giam được trang bị 1 ti-vi màu loại “xịn”, trước cửa đều gắn một hộp thư. Trung úy Tâm nói: “Thứ tư hàng tuần, Ban giám thị khui thư, giải quyết ngay mọi kiến nghị của PN”. Chúng tôi nhận ra thêm: Công khai, dân chủ cũng có sức mạnh cảm hóa. Trung tá Thùy nói: “PN có mắt nhưng không thấy, có tai nhưng không nghe. Cán bộ nói trúng hay trật gì, PN cũng ừ hết. Bởi vậy, cán bộ phải “chuẩn” mới có thể cảm hóa PN”. Hóa ra, “kỳ tích” chỉ đơn giản có vậy - chấp hành thật tốt mọi qui định của ngành. Trong đó, ẩn chứa đầy đủ chữ NHÂN của Đảng và Nhà nước ta.
Chúng tôi thử hỏi PN Tèo: “Sau 4 năm rưỡi thụ án, anh đang nghĩ gì về mình?”. Tèo nói: “Em mới 36 tuổi, đời em còn dài. Ở Tây Ninh, vợ em đang làm lụng cực khổ nuôi 3 đứa con. Càng nghĩ, em càng ăn năn. Ở đây, em sẽ cố gắng chấp hành nội qui thật tốt và học lấy cái nghề để khi về đời còn giúp được vợ con”.

NHỮNG NẺO VỀ ĐỜI
Thật thú vị, nghề của Tèo là nghề... hoa kiểng, chuyên lo trang điểm cho đời. Song, ai cũng biết, nơi này nơi khác “đời... chưa trang điểm”. Khi “về đời”, phải trông cậy chủ yếu vào sức đề kháng của chữ NHÂN.
Chúng tôi được Ban giám đốc CA TP Mỹ Tho cung cấp danh sách 84 PN từng hưởng đặc xá năm 1998. Trong số đó, chúng tôi thử tiếp cận một người. X. hiện là đoàn viên Nghiệp đoàn Honda ôm ở Bến phà Rạch Miểu, từng can tội tổ chức đánh bạc. Khi chở tôi – là khách đi xe – X. vui chuyện: “Hồi trước, tôi là CN Cty thức ăn gia súc. Do đơn vị làm ăn thua lỗ cho nên nghỉ, ra ngoài chạy xe. Thức khuya dậy sớm cũng kiếm 5-6 chục ngàn đồng/ngày”. (Tất nhiên, anh không kể gì về sai lầm của mình trong quá khứ). Tôi lại hỏi: “Còn vợ con?”. “ Bà xã làm CN may bao bì. Chúng tôi có 2 con gái: đứa lớp 6, đứa lớp 12”. “Có mong cho con qua hết đại học?”. “À, trước hết là mong nuôi chúng nên người”.
Chúng tôi lại đến phường 6 – là nơi X. sinh sống. Đại úy Đoàn Văn Thơ – Trưởng CA phường – cho hay: “ Trong đợt đặc xá 2.9.1998, Trại giam Mỹ Phước gửi về địa phương 12 người. Một người vì xấu hổ bỏ lên TP. Hồ Chí Minh. Số còn lại đều hòa nhập tốt, xóm riềng không dị nghị gì. Ngoài anh chàng chạy Honda ôm, có thể kể thêm một chị thợ may từng phạm tội kinh tế, hiện lãnh đồ may gia công tại nhà với số lượng rất lớn, hòa nhập rất thành công”.
Không hề có chế độ ưu đãi nào. Khi PN được khôi phục quyền công dân, đều hưởng ngang với mọi người khác các chính sách “xóa đói giảm nghèo”, “giải quyết việc làm”,... của Nhà nước. Chỉ cậy vào sức sống của chữ NHÂN!.
Trung tá Lê Biên Thùy - Phó giám thị Trại giam Mỹ Phước – đưa mắt nhìn chậu kiểng ngoài hiên: “Tết năm nào cũng có “người ra đi” quay lại Đồng Tháp Mười, không phải để ... thụ án, mà mang bánh mứt vào thăm cán bộ quản giáo, thậm chí còn rủ... nhậu rất thân tình”.
Chúng tôi ngắm mãi dáng cây cầu Hoàn Lương, tự hỏi: Trên thế giới, có ai mở tour du lịch đến các trại giam chưa nhỉ?.

Tháng 12.1999
VŨ TUẤN-KIM QUYÊN
(Báo Lao Động Xuân 2000)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét