Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

TÂM SỰ VỚI SÔNG TIỀN

Suốt gần hai tháng trời, câu nói ấy cứ thổn thức trong tôi, cả ngày lẫn đêm, khi cùng anh Trần Khanh – phóng viên Đài Phát thanh- Truyền hình Đồng Tháp thực hiện phim “Đứng trước lũ” vào năm 1994 – bộ phim tài liệu đầu tiên tôi được làm đúng theo ý mình sau bao nhiêu năm làm báo theo kiểu “sinh đẻ có kế hoạch”.
Được làm đạo diễn phim tài liệu dựa trên kịch bản do chính mình nghĩ ra ở ngay cái nơi mình được sinh ra – đó là “đặc ân” mà Giám đốc Phạm Hồng Kiển dành cho tôi sau khi chuyển công tác từ Đài Truyền hình Cần Thơ về Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Tháp. Và nghiêm túc mà nói, nó đã làm thay đổi đời tôi...
Phim tài liệu “Đứng trước lũ” đoạt huy chương bạc Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 1995 tổ chức tại Cần Thơ. Nhiều đồng nghiệp nhận xét phim giống một tùy bút hoặc một tự truyện được thể hiện bằng ngôn ngữ hình. Riêng tôi lý giải, nguyên nhân của điều ấy không nằm ngoài năm chữ “tâm sự với sông Tiền”. Sau mười hai năm “lưu lạc”, tôi muốn trút cạn tâm tư với quê hương triền miên lũ lụt, với nhân dân anh hùng nhưng phần nhiều chịu cảnh khốn cùng. Dòng cảm xúc dâng trào, tôi hạ bút như chưa bao giờ được viết:
"Nghĩ dân mình sống chung với lũ đã bao đời/ khi nhớ tuổi cũng đếm mùa nước nổi/ lúc làm ăn luôn tính chuyện lớn ròng/ mồ hôi đổ ra nhiều như nước sông Tiền/ lúa thóc gom về cao hơn đỉnh Gò Tháp/ vậy mà sao vẫn chưa hết đói, bớt nghèo/ đứng trước lũ cũng gian nan như ông bà thuở trước?” 
Giám đốc Phạm Hồng Kiển
Từ thành công bước đầu của “Đứng trước lũ”, Giám đốc Đài quyết định tiếp tục dành “đặc ân” cho tôi là chuyên làm phim tài liệu và được chọn ê-kíp. Bản thân cũng từ đó hình thành lối khai thác cuộc sống “từ bên trong” để khi thể hiện thì “câu chuyện hoá” (sau này Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Trung Hiếu - người giữ kỷ lục thực hiện phim tài liệu nhiều nhất trong ngành truyền hình Việt Nam - gọi đó là phim tài liệu tự sự). Tôi chọn vào ê-kíp hai thành viên quan trọng nhất là người quay phim (nhiều nhất là anh Nguyễn Phước Hải) và người đọc lời bình (chủ yếu là anh Đỗ Hoàng Sơn). Hợp tác lâu ngày chúng tôi trở nên “ăn ý”, đến mức chỉ cần bàn bạc với Phước Hải về “góc độ tối ưu” và biết rõ chỗ nào Hoàng Sơn cần lấy hơi khi viết lời bình.
Lê Vũ Tuấn ở Đài PTTH Đồng Tháp
Trung bình cứ ba tháng là chúng tôi làm xong một phim – tốc độ “rùa” tới nỗi phóng viên trẻ hiện giờ dù có... “cúng đầu heo” cũng không thể nào được hưởng (do lại phải làm việc theo kiểu “sinh đẻ có kế hoạch”). Cũng cần nói thêm, thời gian tôi công tác ở Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Tháp (1994-1996), không đài nào ở vùng ĐBSCL lập ê-kíp chuyên làm phim tài liệu. Chính nhờ điều kiện lý tưởng mà tám phim do chúng tôi thực hiện sau đó đều đoạt giải toàn quốc, gồm ba huy chương vàng, bốn huy chương bạc, một bằng khen, trong đó phim tài liệu Người gánh đất (Huy chương vàng 1996) được UBND tỉnh Đồng Tháp khen thưởng đột xuất. Và cũng chính vì vậy mà Báo Lao Động chú ý, chọn tôi về Văn phòng đại diện tại ĐBSCL, giúp hợp lý hoá hoàn cảnh gia đình (1997).
Nhân dịp Đài Phát thanh- Truyền hình Đồng Tháp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập và mười năm tái phát sóng truyền hình, tôi xem lại tất cả các phim đã thực hiện cho quê hương Đồng Tháp và nhận ra rằng: Thời đó dù nghèo, dù phải làm “Phạm Công” một mình nuôi con tại khách sạn Thiên Lợi (trụ sở cũ của đài) ròng rã ba năm, nhưng được làm phim tài liệu trên “đất tình” – đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của bản thân sau hai mươi lăm năm bước vào nghề báo.
Xin cảm ơn Giám đốc Phạm Hồng Kiển!
Xin cảm ơn làn sóng hình mang biểu tượng hoa sen!

4.2007
LÊ VŨ TUẤN
 (Đặc san 30 năm Đài PTTH Đồng Tháp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét